LIÊN KẾT CÁC CUỘC THI


tgt

Thống kê trong ngày

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Trực tuyến trên website

    2 khách và 0 thành viên

    ĐỌC BÁO ĐIỆN TỬ










    WEB HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN




    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Trung Sơn)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang web Trần Trung Sơn xây dựng như thế này có được không?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Đất nước Việt Nam

    Gốc > Tiểu sử danh nhân Việt Nam > Học giả Việt Nam >

    Trương Minh Ký

    Trương Minh Ký (1855-1900)

    Trương Minh Ký có biệt hiệu là Thế Tải, ông sanh ngày 23-10-1855 tại Gia Định, là học trò của Trương Vĩnh Ký. Ông thông Hán và giỏi Pháp văn, làm thông ngôn cho nhà cầm quyền Pháp, cộng tác với Trương Vĩnh Ký trên tờ Gia Định báo, Thông Loại Khóa Trình cũng như viết sách dạy Pháp văn.

    Trương Minh Ký không được người ta chú ý nhưng vừa là môn đệ, vừa là người cộng tác thân cận với Trương Vĩnh Ký, xét qua văn nghiệp, cũng xứng đáng dành cho ông một chỗ đứng trong các nhà văn tiền phong chữ quốc ngữ.

    Ông hành văn cũng bình dân, mộc mạc như Trương Vĩnh Ký và Huình Tịnh Của, chuyên dịch chữ Hán ra quốc ngữ và sử dụng văn vần nhiều hơn văn xuôi.

    Ông có được ân thưởng:

    - Huy chương Hàn Lâm Viện Pháp quốc (Officier d'académie)
    - Kim Khánh bội tinh của Nam triều và Hoàng gia Cam Bốt.

    Ông mất vào ngày 11-8-1900, mộ ông được chôn cất trong nghĩa trang gia đình, nơi Trương Gia Từ nằm trên đường Lý Thường Kiệt, Gò Vấp, Gia Định ( Gần Tổng Y Viện Công Hòa).

    Văn nghiệp của ông gồm có:

    - Phong thần bá áp khảo
    - Ấu học khải phong
    - Trị gia cách ngôn
    - Cổ văn chơn bửu
    - Pháp học tân lương (Cours gradué de Langue-Francaise) 1895
    - Recueil de Brochures sur l"histoire de la littérature Annamite, relié 1891
     

    Trích văn:

    GÀ ĐẺ TRỨNG VÀNG

    Tham thì thâm. Tôi muốn dẫn chứng lời nầy là thuật chuyện con gà thường bửa đẻ ra một trứng vàng, củ gà tưởng trong mình con gà có một cái kho vàng. Nó đem làm thịt đi, mổ ra coi thấy cũng giống như gà thường vậy. Ấy bởi bổn thân làm cho mình phải mất của quí trọng của mình.

    (Gia Định báo số 18 ngày 6-5-1882)

     

    NỮ NHI CA

    Ăn vóc học hay
    Một ngày một lớn
    Bớt giỡn bớt chơi
    Cười cười nói nói
    Khoe giỏi khoe khôn
    So hơn tính thiệt
    Cướp việc tranh công
    Ăn chùng nói vụng
    Làm nũng khóc la
    Nghịch cha nghịch mẹ
    Hiếp trẻ đánh em
    Nhem thèm sắp nhỏ
    Điều có nói không
    Đòi bồng đòi ẫm
    Đi tắm không kỳ
    Mặt lỳ mày lợm
    Đóng khớm, đóng hờm
    Đổ cơm đổ cháo
    Vọc gạo giỡn tiền
    Bông kiềng vòng chuỗi
    Đòi cổi đòi đeo
    Leo trèo nhảy múa
    Chưỡi rủa rầy la
    Gần xa nghe tiếng
    Làm biếng ngủ ngày
    Từ rày bỏ hết
    Có nết có na
    Thờ cha kính mẹ
    Thương trẻ mến em
    Dưới êm trên thuận
    Đi đứng dịu dàng
    Ra đàng tề chỉnh
    Cung kính khiêm nhường
    Kẻ thương người mến
    Ai đến hỏi chào
    Có sao nói vậy
    Mắt thấy tai nghe
    Còn e lầm lỗi
    Phước tội chẳng chừng
    Nên đừng nói bậy
    Kẻ vạy người ngay
    Mặc ai phải chẳng
    Ngay thẳng thiệt thà
    Việc nhà lần học
    Kẻ tóc chơn tơ
    Ngày giờ phải tiếc
    Cứ việc làm ăn
    Cho bằng chúng bạn
    Việc bán việc buôn
    Học khôn học khéo
    Thêu kiểu vá may
    Hàng ngày ra sức
    Bánh mức nem bì
    Món chi cũng giỏi
    Mới gọi gái lành
    Rạng danh thục nữ
    Quân tử hão cừu
    Danh lưu hậu thế
    Dạy để mấy lời
    Phen người dồi ngọc

    Trương Minh Ký làm
    (Miscelanées số 8 Decembre 1888 trang 15)

     

    CHỨC CẨM HỒI VĂN

    Chàng vâng hoàng chiếu thú an biên,
    Đưa tới Hà kiều rẻ thảm riêng,
    Ngậm thở ngùi than ngừng giọt lụy,
    Ân tình xa cách chớ hề quên.
    *
    Đi ra tin đứt có dè sao!
    Màn trướng đầu xuân ấm đặng nào !
    Dưới bụi quỳnh diêu rêu biếc láng,
    San hô trong trướng bụi hồng bao.
    *
    Nỗi lìa thuở ấy bắt kinh hoàng,
    Đem giũ lòng đâu gặp lại chàng;
    Lòng ước làm trăng ngoài biển cả,
    Hoặc làm mây nước chói cao san.
    *
    Mây móc hàng năm thấy mặt chồng,
    Hàng năm trăng biển giọi soi cùng,
    Bay đi bay lại cho gần được,
    Muôn dặm thấy nhau kẻo đợi trông.
    *
    Đường sá vơi vơi cách trở thay !
    Hờn chàng ngoài ải ở lâu ngày;
    Thuở đi đưa đó lau vàng lá,
    Ai ngỡ hoa mai nở bấy chầy.
    *
    Trăm hoa rộn rực sớm chào xuân,
    Ai đó mà xuân giục kẻ than,
    Đầy đất dương sà vì đó vén,
    Bông rời không kẻ quét đầy đàng.
    *
    Thiệt thơm xuân sớm lối ngoài vườn,
    Ôm lấy tần tranh tới hoa đường.
    Ngâm khúc Giang nam vì đó khảy,
    Tình sâu xin gửi thấu lòng chàng.
    *
    Bắc phương hiểm trở vượt non sông,
    Muôn dặm non từ dứt nẻo thông,
    Trấp bạc gối đầu dầm áo lụy,
    Chữ vàng xiêm giẻ thảy xười bông.
    *
    Ba xuân hồng nhạn tiếng qua sông,
    Ấy đó người lìa đứt ruột trông,
    Chửa đứt dây đờn lòng đã đứt,
    Đã xong mối thảm, khúc chưa xong.
    *
    Chàng nay nhớ thiếp nặng bằng non,
    Thiếp cũng nhớ chàng mỗi phút luôn,
    Một bổn dệt đem dâng cúng chúa,
    Cầu tha chồng thiếp sớm về cùng.

    Trương Minh Ký


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Trung Sơn @ 07:38 04/07/2009
    Số lượt xem: 608
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến