LIÊN KẾT CÁC CUỘC THI


tgt

Thống kê trong ngày

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Trực tuyến trên website

    0 khách và 0 thành viên

    ĐỌC BÁO ĐIỆN TỬ










    WEB HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN




    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Trung Sơn)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang web Trần Trung Sơn xây dựng như thế này có được không?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Đất nước Việt Nam

    Gốc > Trò chơi dân gian >

    Trò chơi trò diễn dân gian Miền Bắc

    I -  Trò chơi dân gian

    Hất phết

    Tương truyền có từ thời Hai Bà Trưng, đây là môn rèn luyện thể lực cho nữ quân.

    Quả phết to bằng quả bưởi, bằng gỗ đẽo tròn,

                có nơi sơn son để thờ ở đình, vào hội mới đưa ra chơi. Gậy đánh phết bằng gộc tre đào cả củ, dài khoảng 1m, gọt nhẵn hết rễ nhưng để nguyên củ tre phình ra dưới gốc.

    Số người chơi chia làm hai phe bằng nhau. Sân phết vạch chia đôi, giữa sân vẽ một vòng tròn, là nơi đặt quả phết khi vào cuộc.

    Cuối hai bên sân đều đào một hố to lọt quả phết.

    Lối chơi gần giống môn khúc côn cầu.

    Mỗi bên dùng gậy phết hất quả phết về phía sân đối phương sao cho lọt xuống hố là thắng. Như vậy phải vừa dẫn phết, vừa lừa đối thủ, vừa tránh họ phang vào phết, không để họ cướp được quả phết.

    ở làng Phù Đổng, sân phết chỉ có một hố, người chơi chia làm hai phe; một phe bảo vệ hố không cho bên kia đưa phết vào hố; một phe tìm cách lừa đối phương đưa phết từ xa bật đến sát hố để đẩy vào.

    Hễ thắng là hết ván, đổi phiên giữa hai phe đánh tiếp.

    Trong lễ hội làng Đông Đồ (nay thuộc xã Nam Hồng - Đông Anh) có hất phết thành lệ từ xa xưa. Trai làng dùng gậy hất phết đưa từ sân đình ra đến Cổng Cầu rồi lại hất đưa phết quay trở về. Người đưa, người dẫn, người chặn hai bên để phết không rơi xuống ruộng.

    Hội đền Linh Lang (Voi Phục) xưa cũng có trò chơi hất phết.

    Triều Lý - Trần, vua, quan cũng tổ chức hất phết trong dịp đầu xuân, mỗi đội 12 người, mặc sắc phục khác nhau, cưỡi ngựa cầm gậy hất phết lăn vào hố bên nào là bên ấy thua. Cạnh hố có để một giá cờ. Cứ mỗi bàn thắng, bên đội thắng được cắm một lá cờ.

    Trọng tài dùng trống cái làm hiệu lệnh.

    Lúc đầu, phết chỉ dành cho phái nữ. Nam muốn chơi phải mặc giả nữ. Sau ai chơi cũng được.

     

    Vật cầu

    Tương truyền đây là môn thể thao dân gian do tướng quân Phạm Ngũ Lão bày ra để rèn luyện thể lực cho quân sĩ, thời nhà Trần chống quân Nguyên - Mông.

    Vật cầu còn gọi vật cù. Quả cầu (cù) làm bằng

    gỗ sơn đen hoặc đỏ, có nơi làm bằng quả bưởi to hoặc gọt bằng gốc chuối.

    Sân chơi có vạch ngang ở giữa, hai đầu đào hai hố sâu lọt quả cầu.

    Số người chơi không hạn chế. Chia làm hai đội bằng nhau, mỗi bên thắt lưng một màu khác (bên đỏ, bên xanh).

    Cầu đặt ở chính giữa vạch. Hai bên dàn quân. Nghe xong lệnh xướng, xô vào cướp cầu bằng tay, tung chuyền cho đồng đội đưa về bên sân đối phương, ném xuống hố là thắng.

    Trống thúc ngũ liên cổ vũ.

    Có thể dùng mọi cách để tranh cướp cầu về phe mình, còn đối phương thì ra sức bảo vệ đồng đội đã ôm được cầu di chuyển về hố đối lập hoặc tung ra ngoài vòng vây để người khác dẫn tiếp.

    Hội làng Xuân Dục (huyện Sóc Sơn), Thúy Lĩnh (Thanh Trì) có trò vật cầu.

    Còn ở Hội Chi Nam - thôn Sen Hồ, xã Lệ Chi, (Gia Lâm) có trò chơi cũng giống như vật cầu. Người chơi chia hai phe, mình trần; một bên khố đỏ, bao vàng; một bên khố xanh, bao trắng.

    Hai bên “đánh quân” bằng vật và đấu gậy cho đến lúc quân địch (khố xanh, bao trắng) bị thua. Ông đám đội từ đình ra chiếc mâm son trên bày quả dừa. Ông trịnh trọng đặt quả dừa lên ngọn cây tre trồng giữa sân. Ngọn tre đã chẻ sẵn làm tư để cặp chặt lấy quả dừa. Nghe trống lệnh, trai bao vàng xô lại rung cây tre cho quả dừa rơi xuống, rồi chèn nhau để cướp lấy quả dừa. Ai cướp được, tôn là “tông” được ngồi ăn cỗ với già làng ở chiếu nhất. Còn quả dừa đập nát chia cho các trai dự trò chơi mỗi người một mảnh con lấy lộc may.

     

    Ném còn

    Thường chơi trong Hội Lồng tồng của đồng bảo Tày, Nùng, Thái, Mèo... vùng Tây Bắc, nhưng do giao lưu văn hóa mà người Khơme ở đồng bằng sông Cửu Long cũng có ném còn.

    Người Việt vùng Châu thổ sông Hồng thời Lý, vua quan cũng có tục chơi ném còn vào lễ hội xuân.

    Dân gian chơi ở xã Bồ Đề, Gia Lâm; “ném còn ao chạ” ở hội làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm.

    Bao nhiêu người chơi cũng được, chia làm hai phe nam - nữ đứng hai bên. ở giữa bãi rộng trồng một cây trẻ thẳng, cao, có ngọn, gần đỉnh treo một vòng tròn uốn bằng nan tre, phất giấy hai mặt, một mặt màu vàng tượng trưng cho mặt trăng, một mặt màu đỏ tượng trưng cho mặt trời. Chiếc vòng tròn này được gọi là “phông còn”, nó còn có ý nghĩa vật linh của người con gái (màng trinh), khi bị quả còn ném thủng là biểu lộ mở đầu sự sinh sản bảo tồn nòi giống. Đường kính “phông còn” từ một gang rưỡi đến hai, ba gang tay, tùy cây tre cao thấp. “Quả còn” làm bằng vải, kết nhiều mảnh màu lại thành những múi, bọc chặt lấy những hạt thóc giống, hạt bông, hai sản phẩm chính để tự túc của nhà nông. Có nơi nhồi cả ít đất, cát. Cuối múi là túm tua dài kết bằng chỉ ngũ sắc, dài ba gang tay, đủ để cầm vung vẩy tạo đà định hướng, nhằm ném tung quả còn vào phông còn. Mỗi nhà được làm hai quả còn, ai cũng muốn quả còn nhà mình rực rỡ nhất, đẹp nhất.

    Mở đầu hội chơi, người chủ trì gọi là “ông từ” đặt hai quả còn to nhất lên mâm, làm lễ cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, trai gái đủ đôi, ngay tại bãi còn. Cúng xong, ông từ tung hai quả còn lộc cho mọi người xô nhau cướp. Ai giành được, năm ấy may mắn. Hội còn đã mở. Trai gái bắt đầu tung còn của mình ném lên phông còn. Ngoài ra, còn lấy quả còn ném giao duyên vào cô gái hoặc chàng trai nào mình đang để ý, như một lời ướm hỏi. Nếu đối tượng đón bắt lấy còn; rồi dùng quả còn của họ ném trả lại là trả lời đã đồng ý giao đãi làm quen với nhau sau hội tung còn.

    Khi phông còn bị ném thủng, là cầu nguyện đã được viên mãn, ông từ lấy quả còn vừa lọt qua đích, rạch túi, ban hạt giống cho mọi nhà lấy may. Người ném rách phông còn tin tưởng một năm mới tốt lành, hạnh phúc. Cuộc chơi kết thúc bằng lời hẹn hò nửa kín, nửa hở của những cặp trai gái đã bắt còn của nhau.

    Ném còn là trò chơi mang ý nghĩa phồn thực lâu đời của dân tộc ta.

    Ném còn vùng đồng bằng sông Hồng có nơi không làm cột phông còn, chỉ chia hai phe nam nữ tung còn cho nhau. Họ tự chọn thành từng đôi. Quả còn tua ngắn, ném một tay và bắt đỡ cũng một tay. Có lúc cả hai cùng ném chéo sang nhau để cùng bắt. Còn như vật giao duyên. Mang hơi ấm bàn tay âm sang giao hòa với hơi dương và ngược lại. Ai bắt được nhiều lần là thắng cuộc, người thua phải đưa bạn đi chiêu đãi nhẹ nhàng: một miếng trầu, một thanh kẹo, chiếc bánh nếp... có thể mang đi từ nhà, hoặc món quà lưu niệm: chiếc túi đựng trầu, hộp thuốc lào...

    Có nơi lại đứng vòng tròn quanh bờ ao, ném còn qua ao sang cho nhau. Phải ném đủ mạnh để còn không rơi xuống ao, lại đến chỗ bạn chơi có thể bắt được. Có lần nhảy lên bắt còn ngã xuống ao ướt hết quần áo. Thế mới vui!

    Thời Lý - Trần, các công chúa lại có tục gieo còn (hoặc cầu tròn) để cầu duyên khi các quan tân khoa vào dự yến vua ban.

     

    Ném giỏ

    Giỏ tre đan mắt cáo, đường kính hai - ba gang tay, buộc vào đầu cây tre cao cỡ 3m, chôn chặt ở sân đình làm cột. Trồng một hoặc hai cột cùng chơi.

    Quả ném bằng bưởi.

    Người chơi đứng xếp hàng dọc trước cột. Từng người ném tung quả bưởi vào giỏ. Mỗi người được ném ba đến năm lần theo quy định. Rơi xuống đất được nhặt ném tiếp cho đến hết số lượt. Khi quả bưởi lọt vào giỏ là thắng. Không vào giỏ, hết lượt ra cho người đứng sau lên chơi.

    Nếu chơi hai cột, lập hai đội số người ngang nhau. Đội nào ném bưởi vào giỏ trước là được cuộc.

    Trò chơi ném giỏ xưa tổ chức ở hội làng Phù Ninh (nay là xã Ninh Hiệp) huyện Gia Lâm.

     

    Đấu gậy bảy

    Gọi gậy bảy vì độ dài của cây gậy trong trò chơi bằng tre hoặc bằng gỗ bào tròn sơn son, đều có độ dài bảy thước ta, tương đương 2,8m.

    Cứ hai người đương sức nhau thành một cặp chơi. Một người dùng gậy đánh, một người tay không đỡ. Cả hai mặc áo võ sĩ, thắt lưng gọn ghẽ, đầu chít khăn buộc múi phía sau.

    Vạch vôi một vòng tròn đường kính 5 - 6m làm sàn đấu.

    Vào cuộc, võ sĩ cầm gậy bằng hai tay, nhúng 2 đầu gậy vào vôi bột, để nếu đánh trúng đối phương còn dấu tích trên áo họ, rồi múa gậy vài lượt giống như xe đài khi đấu vật.

    Trống ngũ liên nổi lên. Võ sĩ cầm gậy lúc đánh dứ, lúc tạt ngang gậy, tìm cách đưa đầu gậy chạm vào mình võ sĩ đỡ.

    Người đỡ có thể túm lấy gậy, đẩy lùi đối phương ra ngoài vòng. Người đánh tìm cách không để bị túm gậy, lừa đánh trúng hoặc tạt gậy làm đối phương phải nhảy tránh bắn ra ngoài vòng.

    Ai bị gậy đánh trúng người để lại vết vôi hoặc ra ngoài vòng là thua. Trọng tài gõ một tiếng cắc vào tang trống báo hết hiệp.

    Cuộc chơi có thể nhiêuù hiệp do từng nơi quy định. Hiệp sau đổi lại vị trí người chơi.

    Đấu gậy có ở nhiều hội làng như Đại Lan (Thanh Trì), Lệ Chi (Gia Lâm).

    Trung bình tiên

    Cũng là đấu gậy, nhưng cậy gậy dài hơn và cả hai đấu thủ cùng cầm gậy đánh vào mình nhau.

    Cây gậy đầu buộc giẻ nhúng vôi. Người đấu đứng dạng hai chân, hơi khuỵu đầu gối, theo thế trung bình tấn của môn võ.

    Họ lừa nhau, tìm cách đưa đầu gậy đánh vào chỗ hiểm hoặc để lại trên mình đối phương nhiều dấu vôi trên áo võ sĩ là thắng.

     

    Đánh roi múa mộc

    Roi bằng tre vót nhẵn, đầu vuốt nhỏ để có độ dẻo lúc ra roi, đầu roi bịt vải đỏ để dễ nhận thấy.

    Mộc đan bằng tre, sơn đỏ có thể hình tròn hoặc hình chữ nhật góc vạt tròn.

    Hai đấu thủ tay cầm roi, tay cầm mộc vừa đánh, vừa đỡ.

    Phải đánh vào vai và vào sườn mới được tính điểm. Không được đánh vào đầu, vào mặt nhau. Con gái làng Mễ Trì (Từ Liêm) có tiếng giỏi võ. Ca dao Hà Nội cổ còn có câu:

    "Ai về Kẻ Mễ mà coi

    Con gái cũng giỏi múa roi, đánh quyền"

    Trong hội làng Đông Dư (Gia Lâm) có trò đấu võ, đánh roi múa khiên (mộc) cũng là một mục của cuộc đấu.

     

    Thi nâng

    Nâng cây phan ở hội làng Ninh Giàng (nay thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm).

    Cây phan được bó bằng 50 đến 100 cây tre đực nguyên cây, trong đó có một cây cao nhất để buộc cờ hiệu.

    Các giáp cử một số thanh niên bằng nhau, đều là trai chưa vợ khỏe mạnh, mỗi người trang bị một gậy tre đực dài 1m.

    Khi hiệu lệnh nổi lên, tất cả dùng gậy tre nâng cây phan đặt lên phản đá rồi cùng tác động xoay cây phan quay nhiều vòng, quay càng nhanh, cờ hiệu bay phất phới là năm ấy làm ăn tốt, dân làng thịnh vượng, các trai dự chơi đều được thưởng.

    Nếu cây phan không quay tít, cứ xoay ì ạch, cờ hiệu không bay là điềm năm ấy làm ăn khó khăn, đội chơi bị phạt không có thưởng.

    Nâng đá để tuyển trai đô ở hội làng Thủ Lệ

    (Voi Phục).

    Người thi phải xuống tấn, dùng hai tay bốc hòn đá to nặng 50 - 60kg lên khỏi mặt đất.

     

    Thi chạy

    Một trong những trò chơi rèn thể lực ở hội ba làng Thạch Cầu, Cự Linh, Ngô thôn nay đều thuộc xã Thạch Bàn (Gia Lâm) theo tục lệ có ba trò là:

    Làng Cầu đuổi lợn

    Làng Cự kéo co

    Làng Ngò chạy ngựa.

    “Chạy ngựa” của làng Ngò (Ngô thôn) chính là cuộc thi chạy.

    Trò thi chạy tổ chức vào hai buổi sáng trong hội làng mùa xuân đầu tháng hai. Thời gian kéo dài suốt hai giờ ta, từ giờ Tỵ đến hết giờ Ngọ (theo giờ tây là từ 9 đến 13 giờ).

    Đường chạy do làng quy định, phải từ làng Ngò qua làng Cự, làng Cầu cho đến sát cánh đồng làng Vo (xã Hội Xá) mới quay trở lại, chạy về đích là sân đình làng.

    Phải chọn những quãng đường mấp mô, khúc khuỷu, nhiều khúc ngoặt, có khi lội qua ao, qua hào, vượt rào để thử thách ý chí người dự thi chạy. Đường chạy có người giám sát để không được chạy tắt, tránh qua chỗ khó khăn.

    Ai về đích trước sân đình đầu tiên được giải của làng,  năm ấy có nhiều may mắn.

     

    Đánh quân - chạy cờ

    Nhiều nơi có tục này như một trò chơi trong hội làng, mỗi nơi có những chi tiết khác nhau ở hình thức hoặc tính chất, nhưng tựu trung đều là một cách luyện quân, đánh trận giả.

    ở làng Triều Khúc gọi là “chạy cờ”. Tráng binh chia làm hai đội, mỗi đội 20 người, trang phục binh sĩ thời trước, thắt lưng khác màu. Người cầm cờ hiệu, người cầm đao, gậy, vũ khí khác. Nghe hiệu lệnh trống, từ sân đình, họ tỏa ra hai ngả theo đường vòng cung và gặp nhau giao chiến, đánh trận giả ở giữa cánh đồng cho tới khi có trống chiêng thu quân, lại quay về đình.

    Hội làng Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì), làng Chi Nam (xã Lệ Chi, Gia Lâm) đều có trò giao chiến hai bên “địch, ta” đánh lẫn nhau bằng tay chân, võ vật, có lúc cả bằng gậy gộc, ném đất vào nhau. Xong trận, lại vui vẻ chung mâm hưởng lộc thánh. ở làng Đại Lan (Thanh Trì) chỉ đấu gậy. Vùng Kẻ (Từ Liêm) có hội tập trận đánh quân của bốn làng Đống Ba (xã Thượng Cát), Hạ Trì (xã Liên Mạc), làng Tây Đam (xã Tây Tựu) và làng Thượng Cát. Trò luyện quân rất náo động có chiêng, trống, mõ, tù và truyền hiệu lệnh và đốc quân. Ngạn ngữ vùng này còn có câu: "Chiêng thôn Đống, trống Hạ Trì, mõ Tây Đam, tù và Thượng Cát".

     

    Đấu vật

    Hà Nội là một vùng đất võ, có nhiều đô vật, lò vật nổi tiếng từ xa xưa. Thời Hai Bà Trưng có đô Chinh làng Mai Động, sau thành tướng giỏi luyện quân theo Hai Bà đánh giặc. Ông được coi như thủy tổ của môn võ này. Đô Tu người Thanh Liệt sau làm tướng cho vua Lý Nam Đế xuất thân từ lò vật Quỳnh Đô (Thanh Trì). Huyện Đông Anh cũng có nhiều đất vật nổi tiếng như Cổ Loa, Dục Tú, Nam Hồng... huyện Từ Liêm có lò Mễ Trì, Gia Lâm có Văn Đức, Đông Dư. Hội đấu vật lớn nhất trong các hội làng là ở Mai Động vào ngày 4 đến mùng 6 Tết. Thanh Trì còn lò Yên Sở cũng khá nổi danh.

    Sới vật thường ở trước sân đình. Hai bên trải chiếu hoa để các đô vật lễ thần trước khi đấu. Quanh sân cắm cờ ngũ hành. Hai trống cái cho già làng cầm trịch, đánh ba tiếng một, điều khiển trận đấu. Lại cử ba người tuần, một người đánh trống bưng thúc lúc đang vật, cổ vũ đua tài, hai người cầm cờ đuôi nheo nhỏ phất hiệu vật. Các đô vật đều cởi trần, đóng khố.

    Vật có nhiều giải. Giải thờ hoặc giải hàng là để mở đầu cuộc đấu, khảo sức nhau, thăm dò, biểu diễn để phô trương thanh thế là chính. Keo vật lấy vui, lấy đẹp, vờn nhau, không gay go, quyết liệt như khi đấu giải chính.

    Lệ vật, muốn thắng phải nhấc bổng đối phương lên khỏi mặt đất, gọi là “bốc”, hoặc vật ngã ngửa "lấm lưng, trắng bụng". Nếu chỉ mới ngã sấp thì chưa thua. Bên gặp tình thế này thường nằm bò áp đất, lừa địch thủ từng miếng không để họ bốc lên, chân rời đất hoặc lật ngửa ra.

    Đấu giải thường từ giải ba lên dần đến giải nhất. Mỗi giải đều có người đứng ra giữ. Người giữ phải thắng hơn người phá giải một keo theo quy ước chung là: giải ba trong bốn, ngoài ba; giải nhì trong năm ngoài bốn; giải nhất trong sáu ngoài năm. Người giữ giải phải thắng sáu keo mới đoạt giải nhất, còn người phá giải chỉ cần thắng liền năm keo là được.

    Vào sới vật, hai đô bao giờ cũng mở đầu bằng “xe đài”, múa tay, di chuyển chân uyển chuyển rồi mới lựa thời cơ ra miếng hạ đối thủ. Có nhiều miếng nghề như: ngáng, đệm, cuốn chỉ, ra ràng, bắt bò, nhoài, xốc, bốc, đội...

    Nhưng trong cuộc đấu cấm đánh hiểm như móc hàm, móc nách, móc xương quai sanh hoặc nắm tóc nhau.

    Đấu vật luôn tạo ra không khí hào hứng, sôi nổi, tiếng cổ vũ reo hò âm vang cùng tiếng trống thúc giòn giã. Các đô vật mồ hôi nhễ nhại, nổi cuồn cuộn những bắp thịt săn chắc. Đấu vật vừa đọ sức, vừa đọ trí, không thể chỉ ỷ lại vào thế mạnh, có khi bị đối thủ nhẹ cân hơn lừa miếng đánh phơi trắng bụng.

     

    Kéo co

    Trò chơi luyện sức và thể hiện ý chí hiệp đồng tập thể. Dễ chơi, thường được tổ chức trong các hội làng với nhiều hình thức.

    Tiêu biểu hơn cả trong vùng Hà Nội là hội kéo co làng Cự (tức Cự Linh, nay là thôn Ngọc Trì, xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm).

    Dây kéo có thể dùng dây song, dây chão to bằng tre hoặc đay, thậm chí dùng cả cây tre để kéo. Cũng có lúc không có dụng cụ thì hai người đầu dây nắm chặt cổ tay nhau để cả dây ôm lưng nhau cùng kéo.

    Người chơi chia làm hai phe đều nhau, đối mặt theo một hàng dọc, theo lệnh hiệu cờ cùng kéo về bên mình.

    Chính giữa dây kéo được buộc đánh dấu bằng túm vải đỏ, đặt trên vạch vôi phân ranh giới giữa hai phe. Nếu bên nào lôi được túm vải đỏ dịch sang địa phận của mình là thắng. Lúc đã chuyển nhích được một ly là có cơ dồn lực lôi tuột dây về phía mình làm đối phương mất đà ngã chồng lên nhau. Phe nào có người tuột tay ngã ngửa cũng bị thua.

    Mỗi hiệp khoảng 10 - 15 phút, không phân thắng bại, trọng tài phất cờ cho nghỉ lấy lại sức rồi đấu tiếp.

    Cuộc thi kéo co ở làng Cự do 48 tráng đinh có phẩm hạnh được các giáp cử ra làm giai kéo, chia thành hai phe gọi là “Man đường” và “Man chợ” đấu với nhau. Giai kéo đều cởi trần đóng khố điều. Dây kéo là một sợi song to bằng cổ tay, nhẵn nhụi dài khoảng bốn chục sải tay. Dây luồn qua lỗ một cây cột trụ to, chôn rất chắc xuống sân đình. Trước khi đấu dây song được nêm chặt ở lỗ cột. Sau khi làm lễ thánh, hai phe dàn đội hình. Các giai kéo ngồi một chân co, một chân duỗi, xen kẽ người quay mặt bên này, người quay mặt bên kia dây, một tay nắm dây duỗi thẳng cánh, một tay nắm dây co trước ngực lại còn cặp dây vào dưới nách. Mỗi phe có một tổng cờ, mặc áo dài đỏ, khăn đỏ, quần trắng, cầm cờ lệnh màu đỏ. Già làng cầm trịch phát lệnh bằng trống khẩu. Nêm được tháo. Tổng cờ phất hiệu cờ, miệng hô “í a, kéo!” rồi chạy lên, chạy xuống đốc thúc giai kéo của phe mình.

    Các cô, các bà người thân của bên nào thì dùng quạt quạt, lấy khăn lau mồ hôi, cắt cam chanh đưa vào miệng cho người phe mình. Có người còn lấy dầm chèo khoét đất ở dưới chân cho giai kéo có chỗ tì đạp.

    Người kéo đầu dây phải vừa mạnh, vừa khôn ngoan, biết ghìm dây, lúc cương, lúc nhu để đối phó với từng phút cao điểm dồn lực của bên kia.

     

    Đua thuyền - bơi chải

    Sống ở vùng sông nước, đua thuyền đã trở thành truyền thống trong lễ hội từ lâu đời ở nước ta. Sử cũ từng ghi vua Lê Đại Hành là người đầu tiên tổ chức đua thuyền để rèn luyện thủy quân, đồng thời gắn liền với tín ngưỡng cầu nước cho mùa màng tốt tươi.

    Thời Lý đã cho xây dựng cung điện ở bờ sông Hồng như Hàm Quang (1011), Linh Quang (1058) để vua, quan ngồi xem hội đua thuyền. Các triều đại về sau vẫn giữ nếp, dần dần đưa vào hội làng, trở thành sinh hoạt văn hóa cổ truyền của cư dân hai bên bờ sông Hồng, sông Đuống, sông Nhuệ... và ở cả các làng bên hồ Tây.

    Đua thuyền còn gọi là bơi chải - chải cũng là tên gọi các thuyền đua.

    Hà Nội có hàng chục làng có tục bơi chải như Yên Duyên, Vĩnh Tuy (Thanh Trì), Bồ Đề, Thổ Khối (Gia Lâm), Vĩnh Thanh, Võng La, Tầm Xá (Đông Anh), Yên Phụ, Nghi Tàm (Tây Hồ), Thượng Cát, Thụy Phương, Tây Tựu, Phú Diễn (Từ Liêm). Nổi bật hơn cả về quy mô hoành tráng là hội bơi chải làng Đăm (Tây Tựu).

    Đua thuyền - bơi chải ở mỗi làng có quy cách và thể lệ khác nhau. Kích thước thuyền có dài, có ngắn, nên số tay bơi (người chèo) cũng nhiều ít thay đổi.

    Thông thường thuyền thoi đóng bằng gỗ, đầu chạm hình rồng, hình hạc, đuôi tôm. Làng chài Võng La lại đua thuyền độc mộc, làm bằng cây gỗ khoét rỗng lòng. Nghi Tàm đua thuyền nan. Tùy thuyền to nhỏ mà số tay bơi được quy định: Tây Tựu 24 người, Thụy Phương 8, Bồ Đề 12, Thượng Cát 16, Yên Duyên 18, Nghi Tàm thuyền nan chỉ có 2 đến 4 tay bơi. Trên mỗi thuyền to lại còn có người lái, người tát nước, ông bay, ông lệnh, ông mõ, ông cờ... để phối hợp phục vụ và chỉ huy thuyền đua.

    Số đội bơi tương ứng với số thuyền, thường mỗi giáp cử ra một đội. Có hội chỉ bơi một lần, một ngày, lại có hội hai, ba ngày.

    Hội bơi chải Yên Duyên ngày đầu bơi thờ, ngày thứ hai bơi bò - còn gọi bơi dạo, đến ngày thứ ba mới là bơi giải. Mỗi ngày bơi ba lèo, mỗi lèo ba vòng trên đoạn sông dài khoảng 1 cây số. Hết một lèo lại phát giải. Già làng cầm trịch ngồi trên chòi trống, kết hoa lá, tám mái dựng trên bờ đê áp sông.

    Bơi chải của làng chài Võng La bằng thuyền độc mộc với 6 tay bơi và một lái.

    Hội làng Bồ Đề có 8 chải, đua từ đền Ghềnh đến thôn Lâm Du, cờ ngũ sắc cắm dọc bờ sông Hồng. Các tay bơi vừa chèo vừa hò cho ăn nhịp lúc thì “ớ khoan khoan cho đều, ớ khoan!” lúc thì ông lệnh hô: “Thẳng cánh ra!”, tất cả hò “dô huầy!”, - “Thấp vai xuống!” - “Dô huầy!”, “Ngẩng cổ lên! - Dô huầy!”. Họ còn ghìm cản thuyền nhau. Chải nào bị đắm, họ hò nhau lật lại thuyền, tát nước, bơi tiếp.

    Làng Vĩnh Tuy xây một nghè bơi ở ngoài đê, có ngòi nước lượn quanh; năm nước đầy thuyền đua từ nghè ra sông vòng lại nghè khoảng 4 cây số; năm nước cạn, đua thuyền vượt sang sông Hồng rồi quay về nghè bơi làm đích. Trước khi bơi còn làm lễ tế vua Hà và thủy quan tại nghè.

    Nghi Tàm, Yên Phụ đua thuyền ở Hồ Tây. Nghi Tàm với 4 thuyền nan của hai giáp Thượng, Hạ. Mỗi thuyền hai trai đô đóng khố đỏ, bơi ba vòng hồ, cuối đường đua cắm ba lá cờ màu tương ứng với giải nhất, nhì, ba, thuyền nào cướp được cờ gì quay vào bờ nhận giải ấy. Yên Phụ thuyền 12 tay bơi, đường đua từ sau đình ra chùa Trấn Quốc. Cũng có năm lại bơi sang chỗ mỏ Phượng (nay ở trong khu trường Chu Văn An).

    Bơi chải Thượng Cát có 6 đội bơi, 3 đội nam và 3 đội nữ, mỗi đội 16 người. Đua theo giới, lần lượt cứ một đội nam lại đến một đội nữ, bơi vòng trong đầm ba lượt.

    Làng Vĩnh Thanh - còn có tên nôm là làng Ruộng - đua ở hồ làng. 4 giáp, 4 thuyền: hai chạm đầu rồng, hai thuyền đầu hạc. 12 tay bơi là nữ cả, nhưng lại có 5 ông gõ mõ, phất cờ, hô lệnh, lái, tát nước... cho các cô. Gái bơi đều chưa chồng, áo cánh màu chàm, quần đen buộc túm, chít khăn mỏ quạ, yếm đào, thắt lưng hoa hiên.

    Làng Đăm (Tây Tựu) có hội bơi chải từ thế kỷ XV. Nhà thủy đình xây gạch lợp ngói soi bóng xuống khúc sông Nhuệ làm đường bơi. Ban chấm thi ngồi quan sát tại đây.

    Trai bơi ngồi hai bên mạn chải, tay cầm chèo. Người chấp lệnh và chèo lái mặc áo thụng xanh, quấn khăn và thắt lưng bằng lụa màu. Sáu thuyền đua dàn hàng chữ nhất trước điểm xuất phát. Lệnh pháo vừa nổ, các mái chèo đồng loạt bổ xuống nước đưa chải vun vút trên sông theo tiếng hô, nhịp phách gõ của ông lệnh. Trên sông, cắm những cờ tiêu đuôi nheo màu đỏ để các thuyền tới đó vòng lại.

    Từ xưa đã có câu ca "Làng Đăm có hội bơi thuyền    

                                 Có lò đánh vật có miền trồng rau"

    Bơi Đăm là hội đua thuyền sôi nổi, hào hứng thu hút hàng vạn du khách về xem vào ngày lễ hội hằng năm - mồng 10 tháng Ba âm.

    Ngoài trò đua chải, trong hội Chèm còn có tục rước nước bằng thuyền, đoàn thuyền từ đình bơi ngược lên Liên Mạc, lúc quay xoay tròn trên sông ba vòng, miêu tả lại cuộc giao tranh thời xưa với thủy quái.

    ở hội Thượng Cát, diễn tích hai nữ tướng Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương mặc áo gấm vàng, đi hài, cắp gươm, đứng uy nghi trên thuyền với các tay chèo đều là nữ, sắc phục lộng lẫy như thời dấy quân theo Hai Bà Trưng chống giặc Hán.

     

    Đi cầu tre

    Một cây tre bương to, dài 5m, phạt hết cành, đánh sạch mấu, chôn gốc sâu vào bờ, lèn chặt, để thân cây tre nhô ra ao, nằm trên mặt nước một hai gang tay. Gần đầu ngọn tre cắm một cây cọc, trên buộc một quả pháo.

    Người dự thi nam nữ đều được, ăn mặc gọn gàng, thắt lưng buông múi, tay cầm một nén hương cháy.

    Nghe trống hiệu, người dự thi từ bờ bước xuống cầu tre đi dần ra phía ngọn ở giữa ao. Cây tre tròn, bập bềnh, càng đi ra xa càng bị chìm xuống dưới mặt nước, thân tre tròn, trơn nước dễ ngã. Có ngã cũng phải cố giơ cao nén hương để không bị tắt mới có thể lội vào bờ đi lại.

    Ra đến múp đầu cây tre, người đã ngập nước đến đầu gối, phải dang tay giữ thăng bằng, một tay níu lấy chiếc cọc, một tay châm ngòi pháo. Có khi đi được đến đích không sao, khi châm pháo nổ, lại giật mình ngã tòm xuống nước. Tuy bị ướt hết, nhưng vẫn đoạt giải, có điều nếu ai châm pháo xong, người vẫn khô được giải cao hơn.

    Đó là trò “đi cầu tre đốt pháo” ở hội làng Bồ Đề (Gia Lâm).

    Còn ở vùng Bưởi, nhiều làng giấy cũng có trò đi cầu tre gọi là “Đi cầu mai”.

    Cách làm cầu có khác. Đóng ba cọc tre ở giữa ao đầy nước, một cọc ở bên bờ. Cột một cây tre bương to nối hai điểm cọc. Ngọn tre cột chặt vào ba cọc giữa ao. Gốc tre trong bờ buộc lỏng lẻo để cây tre có thể xoay đảo được. Đầu ba chiếc cọc giữa ao có treo các gói giải thưởng phong kín.

    Cây tre đặt cách mặt nước khoảng 1m để khi người thi ra đến giữa, cây tre võng xuống cũng không chặm mặt nước.

    Chân người dự thi đi đất, tre tươi dính bùn, trơn, lại lúc lắc một đầu rất khó đi. Mất thăng bằng là ngã tòm xuống ao, ướt như chuột lột. Người xem reo hò cổ vũ rất vui. Người ngã được lội vào bờ đi lại. Ngã nhiều quá, nản thì thôi.

    Khi có ba người ra đến đầu ngọn tre giật được ba gói giải thì mãn cuộc.

     

    Đuổi lợn

    Làng Cầu (xã Thạch Bàn, Gia Lâm) có tục mổ lợn tế thần và chia cho dân làng khi vào đám. Hàng giáp phân công mỗi xóm nuôi một lợn cúng thần. Chúng được nuôi vỗ béo, lại là lợn đực giống chạy rất nhanh, khỏe. Đến ngày làm lễ, lợn được tắm rửa sạch sẽ, rồi đem bốn con thả vào sân đình có rào tre xung quanh.

    Trai làng dự trò chơi đuổi lợn, luân phiên nhau từng người một, sau khi làm lễ thần, mở rào vào trong sân đuổi bắt lợn trong tiếng trống cái thúc ngũ liên và người xem reo hò quanh rào. Lợn nghe trống và tiếng reo hoảng sợ chạy nháo nhào trong sân rộng, đuổi theo nó đã khó lại phải làm sao tóm được thật nhanh hai chân sau để vật ngửa lợn ra mà trói lại. Cho nên phải có mưu mẹo, lừa miếng, cho đỡ tốn sức.

    Ai đuổi mãi không bắt được lợn, mệt đứt hơi đành phải nhường phiên cho người khác.

    Cuộc thi cứ thế kéo dài cho đến lúc có bốn trai làng bắt được đủ bốn con lợn mới thôi. Cho nên, đã có năm, đến tận đêm mới bắt hết lợn.

    Bốn trai làng bắt được lợn vừa đoạt giải thưởng, vừa được vinh dự ngồi ăn cỗ làng ở chiếu nhất.

     

    Bắt chạch trong chum

    Trò chơi này thường diễn ra ở các hội làng Kinh Bắc, Phú Thọ, Vĩnh Yên... ở Hà Nội có làng Hồ Khẩu, vùng Bưởi.

    Đặt một hàng chum trước sân đình, đủ cho số cặp đăng ký dự chơi. Mỗi cặp là một đôi nam nữ chưa chồng, chưa vợ. Gái áo cánh trắng hoặc hoa đào, khăn hồng, yếm đỏ, áo tứ thân, bao xanh, cài dây sà tích bằng bạc. Trai áo cánh lụa, quần ống sớ, thắt lưng màu bỏ đọt cạnh sườn.

    Trống phát lệnh ba hồi. Từng cặp làm lễ thần hoàng trước ban án, lễ xong; trai đưa cánh tay trái ôm ngang lưng, bàn tay xòe bóp nhẹ vào ngực bạn gái, còn cô gái đưa cánh tay phải ôm ngang lưng trai. Họ vừa đi về phía chum chạch vừa hát những câu ca giao duyên.

    Đến cạnh chum, họ vẫn đứng trong tư thế ôm nhau, một tay xoa lưng, sờ ngực nhau, còn một tay cùng cho vào chum khoắng tìm bắt chạch. Hai mặt phải đối diện, bốn mắt nhìn nhau.

    Các bô lão cầm trịch bắt bẻ từng động tác. Tất cả đều phải cùng làm: bắt trạch, xoa ngực, nhìn nhau, mải việc này, lơ đãng việc kia là đều bị lỗi. Cùng với tiếng reo hò, trêu ghẹo của dân làng, tiếng chiêng trống lúc dồn dập cổ vũ, lúc gõ từng tiếng báo phạt. Cặp nào làm đầy đủ các động tác quy định ít phạm lỗi, bắt được chạch trước là đoạt giải.

    ở làng Hồ Khẩu, cũng bắt trạch như thế, chỉ khác là thay động tác sờ ngực, xoa lưng bằng chàng trai đưa tay trái cầm lấy cổ tay phải của cô gái. Trong lúc bắt chạch, cô gái tìm cách rút tay ra, chàng trai phải cố nắm giữ lấy, nhưng nhẹ nhàng, không làm đỏ cổ tay cô gái thì mới đạt yêu cầu.

    Cặp nào bắt được chạch trước mà cổ tay cô gái đỏ hằn vết tay nắm cũng không được.

     

    Thổi cơm thi

    Có nhiều hình thức thổi cơm thi khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng phải đạt được là nồi cơm chín nục, chín đều, không rắn, không nát, không sống, không khê.

    Thường lệ mỗi giáp của làng cử ra một đội thi. Mỗi đội 5 hoặc 10 người tùy theo các môn thi nhiều hay ít. Mỗi đội ăn mặc áo quần, dây lưng, yếm cùng màu. ở hội làng Huỳnh Cung (xã Tam Hiệp, Thanh Trì) mỗi đội 5 người: 2 trai kéo lửa, 1 trai múc nước và 2 gái thổi cơm. Còn ở làng Thị Cấm (xã Xuân Phương, Từ Liêm là 10 người: 4 người xay thóc giã gạo, 1 người dần sàng gạo, hai người kéo lửa, 1 người lấy nước, 2 người nấu cơm. Đội có cả nam nữ, tùy công việc mà đặt người. Số người gấp đôi vì có thêm phần thi xay, giã, dần sàng gạo.

    Phần thổi cơm thi chia làm 3 mục:

    Mục 1 -  Thi chạy lấy nước. Mỗi giáp 1 người cầm bình đồng chạy xa khoảng 500m lấy nước vào bình rồi chạy về chỗ nấu cơm. Ai về trước, còn đủ nước vo gạo thổi cơm là thắng.

    Mục 2 - Thi kéo lửa, hai nam dùng hai thanh dang già, gác bếp lâu ngày, cọ vào nhau cho đến khi bật lửa bén vào bùi nhùi.

    Mục 3 - Thổi cơm thi, hai cô gái tiếp lửa, nhóm bếp thổi cơm. Thổi niêu đồng hoặc niêu đất. Chất đốt bằng củi nứa, nùi rơm hoặc bã mía còn tươi. Có nơi chia cho mỗi đội mấy cây mía, vừa ăn vừa lấy bã đun bếp như ở Nghĩa Đô.

    Nồi cơm nào chín trước, cơm trắng, dẻo thơm là đoạt giải. Bát cơm nhất, nhì được dâng cúng thành hoàng.

    Các hội làng Yên Mỹ (Thanh Trì), Đại Mỗ (Từ Liêm) cuộc thi cũng tương tự.

    Có nơi bày thêm những khó khăn cho người thổi cơm. Thí dụ: Cô gái thổi cơm phải bế một đứa bé dăm bảy tháng tuổi (con người khác) dỗ sao không khóc, lại phải chăn một con cóc không cho nhảy ra ngoài vòng vôi.

    Có nơi như Tây Mỗ (Từ Liêm) phải vừa đi vừa thổi. Người thi cột phía sau lưng một chiếc cần tre uốn cong sà xuống trước mặt, nồi đất thổi cơm đánh đai quang treo bằng dây kim loại, buộc vào đầu cần tre.

    Vừa đi theo nhịp trống không được dừng, vừa đưa bó nứa cháy lửa vào đít nồi để cơm mau chín, chín đều. Gió tạt lửa vào mặt, vào ngực nóng ran, các cô gái đều đỏ hồng đôi má càng thêm xinh.

    Đến đích, trống báo kết thúc, kiểm tra nồi cơm nào chín nục là đoạt giải.

    Làng Đồng Lầm (nay là phường Phương Liên) có lệ thổi cơm thi trên thuyền ở ao làng. Ao rộng, bốn bề quẩn gió, rất khó chụm lửa, lại lo thuyền lật.

    Làng Tây Tựu (Từ Liêm) hội thi thổi cơm trên thuyền chỉ khác nhau vài chi tiết nhỏ.

    Làng Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng) giáp ranh Hà Nội cũng thổi cơm thi trên thuyền. Mỗi cô dự thi tự chọn cho mình một trai làm chân sào. Nồi cơm cũng treo trên cần thả trước ngực. Ban giám khảo phát cho mỗi cô nồi, đuốc, đũa cả, diêm, gạo như nhau. Nước do các cô liệu cho. Thuyền nan dàn ngang dưới ao. Nghe 3 hồi trống lệnh, các đấu thủ mới ào xuống thuyền. Các tay sào chống cho thuyền đi theo đường đã cắm tiêu, đi chậm bị trống chỉ huy thúc. Vào khúc lượn phải vượt nhanh để tránh bị chèn. Thuyền hai người bập bênh, đu đưa rất khó đưa lửa tập trung đáy nồi. Vòng nào cũng có người ngã xuống nước, có khi lật thuyền. Phải cố giữ cho đuốc không tắt, nồi không đổ, để còn cứu thuyền, tát nước, nhảy lên tiếp tục cuộc thi.

    Ai thổi chín cơm, đưa thuyền về nơi xuất phát, cắm thuyền hàng ngang, đợi Ban giám khảo đi nếm cơm từng thuyền, xếp giải nhất, nhì, ba, rồi mới được lên bờ dự lễ trao giải.

     

    Thả chim câu

    Thi thả chim câu là thú chơi tao nhã, lành mạnh, tương truyền có từ thời các vua Lý, thịnh hành nhất là vùng đất Kinh Bắc xưa. Các làng Dục Tú, Cổ Loa (Đông Anh) Chèm (Từ Liêm) thường mở hội thả chim câu trong lễ hội. Những năm sau hòa bình, thành phố có lệ hội thả chim câu ở đền Ngọc Sơn trên Hồ Gươm vào dịp kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ.

    Đàn chim dự thi phải đủ 10 con, giống nội thuần chủng, phần lớn là chim nâu và chim đen, vì chim bồ câu trắng yếu hơn. Mỗi đàn nhốt trong một lồng tre, đáy lồng rời, buộc lại vào lồng bằng dây lèo. Khi thả chim, đặt lồng lên bàn, chủ đàn tay cởi dây lèo, tay quạt quạt giấy cho đàn chim khởi động, vón cục lại, đến độ chín, mở cả lồng ra lấy quạt gạt cho cả đàn bay lên trong tiếng trống đổ hồi. Nơi thả chim phải là bãi rộng, thoáng, thường là trước cửa đình làng. Ban chấm thi chia làm hai trịch: “trịch ngoại” ở ngay nơi thả chim, thường do một lão nông quắc thước, quần áo lễ hội, chít khăn nhiễu, thắt đai lưng đen, cầm dùi trống cái, ra hiệu lệnh cho từng người dự thi vào lần lượt thả chim; “trịch nội” tập trung ở sân rộng một ngôi nhà gần đó, có một thau to đựng đầy nước soi rõ bóng từng đàn chim bay trên bầu trời.

    Khi đàn chim dự thi theo con đầu đàn lượn một vòng quanh điểm thả rồi thu đội hình xoắn ốc bay lên thì “trịch nội” đánh ba tiếng trống khẩu, báo hiệu đã nhận đàn vào vòng chung khảo.

    Đàn chim phải bay qua ba tầng hạ, trung, thượng mà không được phạm lỗi. Càng lên cao cả đàn càng bó chụm lại, vòng lượn nhỏ dần, bốc nhanh, dóng thẳng giữa trịch, trước còn to sau nhỏ dần, đến tầng thượng cả đàn chỉ bằng miệng chén, không trông thấy cánh vỗ là được, gọi là “thượng ly trung chính”. Những lỗi thường mắc là bay hơi chếch gọi là “tiểu biên”, bay kéo dài là “đại tràng”, bay con nhanh, con chậm là “tiểu tùy” hoặc “đại tùy”, không bó đàn là “đại sớ”, một con vọt lên trước đàn là “tiên nhàn nhất chích” đều bị phạt điểm, phạm quy. Lại không được vỡ hội hoặc nhập đàn. Chim bồ câu là “nghĩa điểu”, sống theo đàn, có tính đồng đội cao và khả năng định hướng tốt. Qua rèn luyện, cần nhất là vỗ con chim đầu đàn, thả từ gần nhà đến xa dần, đến khi thả cách xa vài chục cây số chim vẫn về nhà là đưa đi thi được. Nuôi chim dự thi rất công phu, vất vả, tốn kém. Phải chọm lựa trong 30 - 40 con mới được một đàn đồng đều. Phần lớn người nuôi chim dự thi đều ở các làng ngoại thành, ven sông Hồng, sông Đuống.

     

    Chọi gà

    Chọi gà không chỉ chơi trong ngày hội mà có mặt bất thường ở sân bãi có hẹn với nhau. Trò chơi này có từ lâu và đã từng làm lắm người đam mê, nên thành ngữ có câu: "Đông như đám chọi gà". Cũng vì vậy, trong “Hịch tướng sĩ” của Hưng Đạo Vương từng khuyên răn, nhắc nhở đừng mê gà chọi mà lãng quên luyện rèn quân sự vì "cựa gà sắc không đâm thủng áo giáp giặc"...

    ở Hà Nội có nhiều vùng nuôi gà chọi nổi tiếng như Yên Phụ, Quảng Bá, Nghi Tàm, An Phú, Nghĩa Đô, Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến)... Tây Tựu có giống gà “Tông còi”, nhỏ, nhẹ nhưng nhanh nhẹn gan dạ, đánh thắng cả loại gà lớn hơn, nặng hơn. Các hội làng có chọi gà như Đông Dư, Linh Quang.

    Gà chọi phải chọn giống gà nòi, có chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt, vỗ hàng năm, rồi mới vần cho gà ghép tập đá, rèn luyện sức dẻo dai. Mỗi con thường có miếng hiểm, đòn mé riêng của mình. Đánh, đỡ, tiến, lui đều có tên gọi.

    Chọi phải từng đôi tương đương với nhau về chiều cao và cân nặng. Nếu chênh lệch quá, con mạnh hơn phải dùng vải bọc cựa để giảm sức đánh.

    Cho gà chọi ở sân đất hoặc trên bãi cỏ phẳng, có đất chung quanh rộng cho người xem quây vòng tròn. Mỗi trận đấu, nếu đấu giải từ 7 đến 10 “hồ” (hiệp đấu từ 15 đến 20 phút), giữa hai hiệp có “khuya hồ” (là nghỉ từ 3 đến 5 phút). Còn đấu giao hữu, gọi là “lèo” chỉ cần 5 hồ. Lại có thể giao ước đấu đến “kỳ tẩu, kỳ tử” nghĩa là tới khi một con bỏ chạy hoặc chết ngay tại trận.

    Nếu chủ gà thấy gà mình núng thế, muốn gà đỡ bị hại có thể xin dừng cuộc đấu, tức là chấp nhận mình thua.

     

    Chọi chim

    Thường là chim họa mi, loại hùng điểu, vương điểu, có ý chí chiến đấu cao. Chim nuôi từng cặp trống mái. Cũng phải nuôi dạy, vỗ béo, vỗ nóng tập luyện như nuôi gà chọi.

    Trận đấu có bốn lồng nhốt hai cặp chim, đặt đối diện, cửa lồng hai chim trông áp sát nhau, ngăn bằng mảnh gỗ mỏng che cho chim không thấy đối thủ. Phát lệnh đấu, trọng tài rút miếng gỗ ra, mở đầu cuộc chiến. Con nào nhảy xuống cầu trước 3 lần mà đối thủ không xuống là thắng. Con thua bị loại ngay. đưa cặp khác vào đấu tiếp. Chỉ hai con trống chọi nhau, còn hai con mái làm nhiệm vụ “xùy” cho bạn tình xông lên, cổ vũ cả bằng giọng hót, lại có lúc cầm trịch cho con trống tạm lùi, nghỉ ngơi. Con mái góp phần quyết định vào mỗi trận đấu. Hội làng Đồng Lầm (Kim Liên) thường có chọi chim.

    Chọi gà, chọi chim giải thưởng không to, nhưng vinh dự của người chủ nuôi chiến thắng là niềm tự hào rất lớn.

     

    Chọi dế

    Tháng năm, lúa chiêm chín vàng, châu chấu ra nhiều là đến mùa chơi chọi dế. Thường được đám trai choai choai ưa thích.

    Dế chọi chọn loại mình thuôn, cánh hoa, tiếng gáy to, tính hung hăng, gặp nhau là húc đầu chọi, có tên gọi “dế mèn”. Phải lùa sợi lạt giang khua khoắng hoặc đổ nước vào hang cho dế ra là chộp lấy. Nuôi dế trong hộp cho ăn sương đêm, cỏ non, miếng khoai lang, thỉnh thoảng cho nếm chút rượu để gây máu hiếu chiến. Chỉ lấy con dế đực để chọi. Phải cho nó đấu thử để làm quen vài ba trận.

    Chiếc mâm cát đặt trên bàn. đưa hai con dế vào sân đấu. Nó nhìn nhau giữ miếng, khe khẽ gáy rồi tiến lại gần nhau. Bất ngờ chống càng, ghé miệng cắn, ghì chặt nhau, lừa miếng tung càng đá hậu. Lúc đã mệt, lùi ra nhưng vẫn gáy khiêu khích. Con nào thấy yếu hơn, có vẻ mệt mỏi, chủ dế lấy tóc buộc vào càng nó xoay tít làm nó say. Thả xuống là nó hung hăng xông vào chọi cho đến được thua ngã ngũ mới thôi.

    Con dễ đã bị thua một lần được gọi là “dế vỡ” để khỏi lẫn với các con chưa thi đấu lần nào.

     

    Thả diều

    Chơi diều chủ yếu ở các làng bên sông, có vùng bãi rộng, có triền đê cao lộng gió, thả sức nới dây cho diều lên cao không vướng mắc. Diều làm say mê mọi lứa tuổi, thú chơi trang nhã của đồng quê.

    Tùy lứa tuổi mà làm các loại diều khác nhau. Có loại lớn bồi bằng vải, hoặc hai lượt giấy bản phất cậy, dài tới vài mét, hình cánh cung vút cong như một vầng trăng khuyết. Có thể đặt một hay nhiều sáo. Sáo có bốn loại thể:

    - “Sáo cồng” bằng cả ống tre dài hai gang, khoét lỗ sao cho lọt gió, thổi nên tiếng âm vang giống tiếng cồng.

    - “Sáo đẩu” có tiếng kêu rền rĩ như than thở.

    - “Sáo còi” tiếng phát ra the thé.

    - “Sáo chim” nghe giống như chim hót.

    Khung diều phải làm bằng tre cật vót nhẵn, kết cấu bằng các khung nan ngang dọc, các chạc giằng bằng mây, tạo được thế cân bằng.

    Diều phải có dây lèo như một thứ bánh lái điều chỉnh thăng bằng, đỡ cho hai cánh diều không bị gió bẻ gẫy.

    Dây thả nối vào dây lèo làm bằng tre cật già không có đốt kiến, sâu mọt, vót đều, nối chắc lại với nhau cho dài dăm trăm sải tay. Cũng có nơi làm dây mây. Lại phải đem luộc cho thêm độ dẻo.

    Làm diều là một nghệ thuật, thả diều đòi hỏi kỹ thuật cao.

    Diều lớn phải năm sáu người nâng cho cân hai cánh, lựa chiều gió đâm thẳng vút lên, người kéo dây chạy đưa đà cho diều cứ thế bốc dần lên, không chao đảo, không sậm sựt. Càng lên cao, nong gió, tiếng sáo mới âm vang, tỏa rộng, ngân đều.

    Trẻ em làm diều cánh cung loại nhỏ, loại nhỡ, có sáo con hoặc không.

    Đơn giản nữa làm diều cánh phản, khung tre hình vuông, có chùm đuôi dài bằng giấy bay lất phất, cũng vui lắm.

    Từ thả diều chơi, người ta đi tới thi diều sáo, thả vào lúc hoàng hôn, rồi để diều cứ bay qua đêm, qua vài ngày, nghe tiếng sáo, tính độ cao, nhìn dáng bay đẹp không chao lắc, dây diều không võng mà định giải.

    Lại còn thi chọi diều, điều khiển dây cho hai diều đấu đầu nhau, đánh nhanh, đánh mạnh, đánh trúng làm hỏng diều đối phương càng nhanh càng tốt.

    Nhưng có lẽ thi diều hay hơn là chọi diều, phá hoại công trình của nhau thì có được giải cũng chẳng mấy thích thú.

     

    Đánh đu

    Từ lâu đời, các làng hai bên bờ sông Đuống đều có chơi đánh đu trong ngày hội làng, ngày Tết như Dương Xá, Kim Sơn, Ninh Hiệp, Yên Thường, Đông Dư...

    ở huyện Đông Anh có Cổ Loa, Dục Tú, Liên Hà, Nam Hồng... Thanh Trì có Thanh Liệt, Tứ Hiệp, Vạn Phúc, Vĩnh Quỳnh... Từ Liêm có Tây Tựu, Dịch Vọng, Mễ Trì...

    "Khen ai khéo dựng đu này

    Để cho trai gái chơi ngày chơi đêm"

    Ca dao cổ đã ca ngợi trò đánh đu như vậy. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương từng miêu tả:

    "Trai đu gối hạc, khom khom cật

    Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng"...

    là nói về thứ đánh đu bay này!

    Đánh đu phải từng cặp nam nữ, người dún kẻ dừng, thay nhau đưa dần cho cần đu dần lên bổng, tới lúc ngang cần, hai người như đè lên nhau, áo khăn quấn quít vào nhau, mới chịu ôm cần đu để cho đu hạ dần, tới lúc chậm lại đã có người bắt đu dừng hẳn cho đôi khác lên thay.

    Cây đu trồng bằng 6 hoặc 8 cây tre theo thế chân kiềng, chụm đầu vào nhau, câu kết bằng xà đu. Từ xà đu có hai cái gông nối với tay đu hoặc cần đu để tạo khớp cần thiết cho đu chỉ lên tới mức độ nào đó, không cao quá nguy hiểm. Tay đu phải chọn tre đực, bánh tẻ, vừa tầm tay nắm, không có đốt kiến, đảm bảo an toàn cho người lên đu. Trồng cây đu xong, phải được già làng có kinh nghiệm kiểm tra cẩn thận, làm lễ, rồi lên khai đu, nổi trống gọi người xem hội tụ.

    Nơi trồng cây đu phải thoáng đãng, rộng, không gần cây cối, có chỗ đứng xa cho nhiều người xem.

    Giải thưởng thi đu được gói buộc vào đầu cành tre nhỏ như cần câu dài, đặt ngang tầm với đỉnh cột đu. Khi người dún đu đưa cần ngang với đỉnh cột thì đưa một tay giật giải. Nếu để giải rơi xuống đất là mất.

    Đu là môn thể thao không chỉ đòi hỏi sức khỏe dẻo dai, mà còn phải có thần kinh vững vàng, không chóng mặt, hoa mắt, nôn mửa lúc đu
    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Trung Sơn @ 22:12 15/11/2009
    Số lượt xem: 1415
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến