LIÊN KẾT CÁC CUỘC THI


tgt

Thống kê trong ngày

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Trực tuyến trên website

    2 khách và 0 thành viên

    ĐỌC BÁO ĐIỆN TỬ










    WEB HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN




    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Trung Sơn)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang web Trần Trung Sơn xây dựng như thế này có được không?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Đất nước Việt Nam

    Gốc > Tiểu sử danh nhân Việt Nam > Học giả Việt Nam >

    Nguyễn Hiến Lê

    “Tôi sinh ra và lớn lên ở ngõ Phất Lộc, trông ra bờ sông Nhị Hà. Ngõ rộng độ hai thước, dài độ hai trăm thước, mươi căn nhà dồn vào ngõ hẹp thấp hơn mặt đường đến một thước mà ngày cũng như đêm đều tối om om. Đã không có gì đẹp lại còn bẩn thỉu nữa… Bên ngoài, trên đường Bờ Sông, gần ngõ Phất Lộc có một cái đình không biết thờ vị thần nào mà kiến trúc rất đơn sơ. Hai cánh cửa gỗ luôn đóng kín, trên mái cổng tam quan có đắp một bầu rượu khá lớn nằm giữa hai con rồng uốn khúc châu đầu vào. Thuở bé, tôi được theo bà ngoại vào đình mấy lần, tôi thấy bên trong là một khoảng sân rộng vắng ngắt. Tuy vậy, mà quang cảnh lạnh lẽo trầm mặc thâm u của ngôi đình bỗng nhiên len sâu trong tâm tư tôi những khi ngồi học trong lớp, hoặc những khi tôi đến chơi nơi nào đông vui là tôi lại chạnh nghĩ đến ngôi đình, nhớ đến bà ngoại tôi. Nhất là sau ngày cha tôi và bà ngoại tôi vĩnh viễn ra đi trong cái ngõ hẹp tối tăm ấy...”

    Bút danh Lộc Đình tôi dùng ký dưới một bài văn ngắn từ hồi trẻ… Lộc là ngõ Phất Lộc, còn Đình là cái đình ấy…

    Cái ngõ Phất Lộc đã từng có mặt trong văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài... Cái ngõ Phất Lộc chắc bây giờ chẳng còn mấy dáng dấp của 70 năm trước, khi người kể những hồi ức trên rời quê hương vào Nam lập nghiệp. Đó là một buổi trưa ngày rằm tháng Chạp năm Giáp Tuất, trời u ám, mưa phùn lất phất và lòng người đi buồn vô hạn. Điều buồn tiếc hơn nữa là, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, nhà văn, nhà văn hóa Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê cũng không có dịp nào được trở về...

    Bây giờ thì ở thành phố Hồ Chí Minh đã có một đường mang tên Nguyễn Hiến Lê để tưởng lệ những đóng góp của ông với văn hoá dân tộc. Bây giờ thì sách của đã được tái bản với lượng in hàng vạn bản, xếp đầy các giá ở những hiệu sách lớn. Nhưng hình như rất nhiều người Hà Nội vẫn còn chưa được biết ông chính là đứa ở của đất Kẻ Chợ Thăng Long và tên tuổi ông gắn chặt một với cái ngõ nhỏ thân yêu tự thuở thơ ấu. Ngày 22/12/2004 là kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất nhà văn gốc Hà Nội - Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê. Sinh năm 1912, cùng năm với Hàn Mạc Tử, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng, nhưng hình như định mệnh đã ưu ái với ông hơn, ông đã được sống và làm việc cách đều đặn, vì chỉ mất vào năm 1984, vì tuổi già. Song ở một khía cạnh khác, hình như định mệnh lại cũng thách ông, như một nhà văn đã viết: trong làng văn nước nhà, có lẽ không ai dự bị vào nghề lâu như anh: trên mười năm trời...". Cả một thời gian rất dài, mặc dù sách ông làm ra đã ấn hành rất nhiều, tên tuổi ông vẫn không mấy được nhắc đến. Trong cuốn Từ điển văn học, hai tập, hàng nghìn trang in khổ lớn, xuất bản 1984, không thấy một dòng nào dành cho ông. Riêng ở Hà Nội, mươi năm trở lại đây, khi hàng loạt sách của ông được bản, người đọc bình thường mới dần làm quen với tên một nhà văn, một học giả: Nguyễn Hiến Lê và có lẽ cũ còn rất ít ai biết nhà văn vốn sinh ra và trưởng thành tài từ Hà Nội.

    Một lần, vào năm 1978, một nhà văn trẻ, trong khu tài liệu cho một cuốn tiểu thuyết lịch sử về thành Thăng Long, đã vào Sài Gòn, tìm đến tận nhà thăm ông và xin được ông chỉ giáo. Qua câu chuyện khá dè dặt của một con người thận trọng, trầm tĩnh, nhà văn trẻ được biết ông đang cố gắng để hoàn thành một sự nghiệp với khoảng một trăm tên sách với trung bình 800 trang bản thảo đều đặn mỗi năm, như một người bạn gần gũi, ông đã viết trong một chân dung văn học, toàn bộ tác phẩm của ông ước đến mấy mươi nghìn trang in. Nào bút ký văn học. Nào khảo luận. Nào nghiên cứu. Nào dịch thuật... Một sức lao động thật kinh ngạc và đáng cho bất cứ một ai cũng phải kính trọng, khâm phục.

    Và đó là những cuốn sách như thế nào?

    Hãy đơn cử mấy cuốn Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử, Đại cương triết học Trung Quốc vừa ra gần đây. Với số lượng in đến mấy nghìn bản, và chắc chắn không phải là dễ đọc lắm, vậy mà trên những quầy sách lớn Thủ đô, chỉ bày chưa đầy ba tuần đã không dễ còn tìm mua được. Còn đến lượt cuốn Liệt tử - Dương tử... “Từ trước tới nay chưa có một học giả nào, cựu học và tân học, mà có công giới thiệu Cổ học Trung Hoa bằng ông Nguyễn Hiến Lê" - một nhà văn đã nhận xét.

    Nhưng ông đâu chỉ am tướng triết học hay riêng triết học phương Đông. Để có một khái niệm nào đó về nhận thức uyên bác và biên độ sáng tạo của ông trong nhiều lĩnh vực tưởng chừng khá xa nhau, ta thử lướt qua một vài tên sách trong danh mục rất dài gắn với tên tuổi, với thành quả lao động của ông.

    Tôi tập viết riêng Việt. Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam. Hương sắc trong vườn văn. Trên đường thiên lý. Tổ chức công việc theo khoa học. Đắc nhân tâm, bí quyết để thành công. Xung đột trong đời sống quốc tế. Bảy bước thành công. Gương kiên nhẫn. Đông Kinh nghĩa thục. Đại cương văn hợc sử Trung Quốc. Nho giáo: một triết lý chính trị. Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Chi). Sử ký Tư Mã Thiên (dịch chung với Giản Chi). Lâm Ngữ Đường: Một quan niệm sống đẹp. Dịch L.Tônxtôi: Chiến tranh và hoà bình. Dịch bộ lịch sử văn của Will Durant với các tập quan trọng nhất như: Văn Trung Hoa, Văn minh Ấn Độ, Văn minh Ả Rập, Bài học lịch sử.

    Từ cổ đại đến hiện đại. Từ Tây sang Đông. Từ văn học đến triết học. Từ ngôn ngữ học đến sử học. Từ nghệ thuật là đến nghệ thuật kinh doanh. Cả về Đông y, về Tử vi, Dịch lý, về Địa lý phong thuỷ... Tưởng như không một lĩnh vực nào ông không quan tâm. Ông xứng đáng là một nhà bách khoa uyên bác đáng tin cậy. Có lẽ, thấm sâu những tư tưởng Lão - Trang, ông đã cố để cho đời đừng biết đến mình. Ông sống lặng lẽ, làm việc lặng lẽ, cố đem những gì tiến bộ nhất trong tư tưởng, trong khoa học là mình hiểu biết để giúp đỡ. Và lý tưởng của nhà văn đơn giản chỉ vậy thôi. Như một người bạn của ông kể lại, cứ xét lối làm việc thì ông là người mới? Có tổ chức, có phương pháp như một nhà khoa học, nhưng xét về lối sống, lối cư xử thì ông là một người cổ: thanh bạch, giản dị, chỉ ưa sách và hoa, ghét sự ồn ào, nhất là ồn ào của danh vọng, tính tình có vẻ hơi nghiêm, đối với bạn bè thì chân thành nhưng đượm vẻ đạm bạc của nhà nho... Cũng có lẽ, vì thế, mà cho đến nay, sự nghiệp của ông lớn lao là thế, hữu ích là thế mà hầu như vẫn nằm trong khuất lấp. Có cả một công trình của nhà nghiên cứu in về ông, những chân dung do họ, do học trò, đồng nghiệp ông viết lại, trân trọng, kính phục.

    Một lần, ông tâm sự: 'Tất nhiên ai viết thì cũng mong sách bán được, tôi đã sống chuyên về cây viết thì lại càng không thể bỏ qua phương diện đó. Nhưng có những cuốn tôi biết rằng bán sẽ rất chạy mà không khi nào tôi viết. Lại có những cuốn tôi biết chắc rằng không bán được mà tôi vẫn bỏ ra mấy năm để viết... Điều quan trọng là ta phải thành thực với mình. Và chưa bao giờ tôi viết một cuốn sách nào mà không thành thực với tôi, mà không thích nó, không tin rằng nó có ích” Tưởng không có lời nào chính xác hơn về ông.

    Từ rất lâu, tên tuổi Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) đã được nhiều người biết tới như một nhà văn, một học giả, một nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm biên soạn và dịch thuật để đời có giá trị, thuộc đủ mọi lãnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký... Ngoài ra, thế hệ hậu bối còn noi gương được ở ông nhiều thứ: gương tự học, tinh thần làm việc nghiêm túc, và nhất là nhân cách cao thượng của một người trí thức chân chính.

    Ông Nguyễn Hiến Lê không trực tiếp làm chính trị, nhưng lúc nào cũng đau đáu lo việc cho đời, bằng cách thế hoạt động của riêng mình. Ông tin ở các giá trị văn hóa như một yếu tố sức mạnh tinh thần có ý nghĩa quyết định cho tương lai của dân tộc hơn là những hành động chính trị nhất thời, nên đã tận tụy làm việc cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, tìm mọi cách lay động trái tim con người nhằm phổ biến và cổ vũ cho những ý tưởng nhân bản thâu góp từ đông tây kim cổ mà ông thấu hiểu và đề nghị mọi người chia sẻ như là căn bản của một nền chính trị bền vững khả dĩ mang lại cuộc sống phát triển trong ổn định và ấm no hạnh phúc của nhân dân.
    Đời sống bản thân ông khiêm tốn, giản dị, làm việc nhiều hưởng thụ ít, không thích ồn ào, nhưng tư tưởng, tâm hướng và lòng ông thì thật sâu kín, rộng rãi, nồng nàn, có lẽ vì thế mà viết ra điều gì cũng với lời văn giản dị, dễ hiểu, trung thực với ý mình. Ông luôn đứng về phía nhân dân lao động nghèo khổ mà cả một thời thơ ấu hàn vi ông đã từng chia sẻ, nên đã mạnh dạn phê phán những hành vi sai trái của các nhà đương cuộc mà ông luôn quy trách nhiệm chính cho những tình trạng suy bại xã hội của mọi thời. Trước sau ông không xu phụ, thỏa hiệp với giới cầm quyền đương thời để được hưởng những đặc quyền trong xã hội. Mặc dù vậy, tâm huyết của ông cũng không được đời đáp ứng là bao, nên không tránh khỏi có những lúc phải ngậm ngùi chua xót cho sự bất lực của mình trước thời cuộc. Tâm sự của ông có lẽ cũng giống như Tô Thức, một tác giả Trung Quốc ông yêu thích mà có lần ông đã dẫn chứng mấy câu thơ: Thẹn hoài cho người nước này, đau xót như có gai đâm trong da thịt, bình sinh đọc năm ngàn quyển sách, nhưng không có một chữ nào cứu đói cho dân được.

    Nhiều người hiểu Nguyễn Hiến Lê hơn qua tập Hồi ký (NXB Văn Học, 1993) và Đời viết văn của tôi do ông tự viết (NXB Văn Hóa, 1996). Ông cũng tự kể về cuộc đời và việc làm của mình qua bài trả lời phỏng vấn khá dài của ông Nguyễn Ngu Í đăng trên tạp chí Bách khoa (1965) trong mục “Sống và viết với...”, rồi in thành sách (1966), và một bài khác nữa do ông Lê Phương Chi thực hiện (in trong tập Tâm tình văn nghệ sĩ, NXB Thanh Niên, 2001). Ngoài ra còn có cả một tập tiểu sử Nguyễn Hiến Lê, cuộc đời và sự nghiệp của Châu Hải Kỳ (NXB Văn Học, 1993) dày đến trên 300 trang. Để tìm hiểu về ông, tưởng như thế cũng đã tạm đủ. Tuy nhiên càng về sau, nhất là khi sách Nguyễn Hiến Lê được xuất bản sau thời kỳ chuyển hình của đất nước (mà người khai phá đầu tiên là ông Ba Kính, giám đốc NXB Long An trong những năm 90), nhiều người càng biết rõ chân giá trị những tác phẩm của ông hơn, cũng như chí hướng và lòng tinh thành mà ông đã gởi gắm hết vào, thì có nhiều tác giả lại viết thêm về ông đứng từ những góc độ nhìn khác nhau.

    Theo  Văn hiến Việt Nam 

     

    Tác phẩm của học giả Nguyễn Hiến Lê

     

    VĂN HỌC

     

    Hương sắc trong vườn văn (2 quyển) - 1962
    Luyện văn I (1953), II & III (1957)
    Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 quyển) - 1955
    Cổ văn Trung Quốc - 1966
    Chiến Quốc sách (viết với Giản Chi) - 1968
    Sử Ký Tư Mã Thiên - 1970
    Tô Đông Pha - 1970
    Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa (dịch) - 1970

     

    NGỮ PHÁP

     

    Để hiểu văn phạm - 1952
    Khảo luận về ngữ pháp VN (viết với TVChình) - 1963
    Tôi tập viết tiếng Việt - 1990

     

     

    TRIẾT HỌC

     

    Nho giáo một triết lý chính trị - 1958
    Đại cương triết học TQ (viết với Giản Chi) - 1965
    Nhà giáo họ Khổng - 1972
    Liệt tử và Dương tử - 1972
    Một lương tâm nổi loạn - 1970
    Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại - 1971
    Mạnh tử - 1975
    Trang tử - 1994
    Hàn Phi tử - 1994
    Tuân tử -1994
    Mặc học - 1995
    Lão tử - 1994
    Luận ngữ - 1995
    Khổng tử - 1992
    Kinh Dịch - 1990

     

     

    LỊCH SỬ

     

    Lịch sử thế giới (viết với Thiên Giang) - 1955
    Đông Kinh nghĩa thục - 1956
    Bài học Israel - 1968
    Bán đảo Ả Rập - 1969
    Lịch sử văn minh Ấn Độ (dịch W. Durant) - 1971
    Bài học lịch sử (dịch W. Durant) - 1972
    Nguồn gốc văn minh (dịch W. Durant) - 1974
    Văn minh Ả Rập (dịch W. Durant) - 1975
    Lịch sử văn minh TQ (dịch W. Durant) - 1997
    Sử Trung Quốc (2 quyển) - 1997

     

     

    GIÁO DỤC - GIÁO KHOA

     

    Thế hệ ngày mai - 1953
    Thời mới dạy con theo lối mới - 1958
    Tìm hiểu con chúng ta - 1966
    Săn sóc sự học của con em - 1954
    Tự học để thành công - 1954
    33 câu chuyện với các bà mẹ - 1971
    Thế giới bí mật của trẻ em - 1972
    Lời khuyên thanh niên - 1967
    Kim chỉ nam của học sinh - 1951
    Bí quyết thi đậu - 1956
    Muốn giỏi toán hình học phẳng - 1956
    Muốn gỏi toán hình học không gian - 1959
    Muốn giỏi toán đại số - 1958

     

     

    TIỂU THUYẾT

     

    Kiếp người (dịch S.Maugham) - 1962
    Mưa (tuyển dịch nhiều tác giả) - 1969
    Chiến tranh và hoà bình (dịch Tolstoi) - 1968
    Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu (dịch Paton) 1969
    Quê hương tan rã (dịch C.Acheba) - 1970
    Cầu sông Drina (dịch I.Andritch) - 1972
    Bí mật dầu lửa (dịch Gaillard) - 1968
    Con đường thiên lý - 1990
    Mùa hè vắng bóng chim (dịch Hansuyn) -
    Những quần đảo thần tiên (dịch Maugham) - 2002

     

     

    CHÍNH TRỊ - KINH TẾ

     

    Một niềm tin - 1965
    Xung đột trong đời sống quốc tế - 1962
    Hiệu năng - 1954
    Tay trắng làm nên - 1967
    Tổ chức công việc theo khoa học - 1949
    Tổ chức công việc làm ăn - 1967
    Lợi mỗi ngày một giờ - 1971
    Những vấn đề của thời đại - 1974

     

    GƯƠNG DANH NHÂN Gương danh nhân - 1959
    Gương hi sinh - 1962
    Gương kiên nhẫn - 1964
    Gương chiến đấu - 1966
    Ý chí sắt đá - 1971
    40 gương thành công - 1968
    Những cuộc đời ngoại hạng - 1969
    15 gương phụ nữ - 1970
    Einstein - 1971
    Bertrand Russell - 1972
    Đời nghệ sĩ - 1993
    Gogol - 2000
    Tourgueniev - 2000
    Tchekhov - 2000

     

     

    CẢO LUẬN - TUỲ BÚT - DU KÝ

     

    Đế Thiên Đế Thích – 1968
    Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười - 1954
    Nghề viết văn - 1956
    Vấn đề xây dựng văn hoá - 1967
    Chinh phục hạnh phúc (dịch B. Russell) - 1971
    Sống đẹp - 1964
    Thư ngỏ tuổi đôi mươi (dịch A. Maurois) - 1968
    Chấp nhận cuộc đời (dịch L.Rinser) - 1971
    Làm con nên nhớ (viết với Đông Hồ) - 1970
    Hoa đào năm trước - 1970
    Con đường hoà bình - 1971
    Cháu bà nội tội bà ngoại - 1974
    Ý cao tình đẹp - 1972
    Thư gởi người đàn bà không quen (A.Maurois) - 1970
    10 câu chuyện văn chương - 1975
    Đời viết văn của tôi - 1996
    Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - 1992

     

    Để tôi đọc lại -

     

     

    TỰ LUYỆN ĐỨC TRÍ

     

    Tương lai trong tay ta - 1962
    Luyện lý trí - 1965
    Rèn nghị lực - 1956
    Sống 365 ngày một năm - 1968
    Nghệ thuật nói trước công chúng - 1953
    Sống 24 giờ một ngày (dịch A.Bennette) - 1955
    Luyện tình cảm (dịch F.Thomas) - 1951
    Luyện tinh thần (dịch Dorothy Carnegie) - 1957
    Đắc nhân tâm (dịch Dale Carnegie) - 1951
    Quẳng gánh lo đi (dịch Dale Carnegie) - 1955
    Giúp chồng thành công (dịch Dorothy Carnegie) 1956
    Bảy bước đến thành công (dịch G.Byron) - 1952
    Cách xử thế của người nay (dịch Ingram) - 1965
    Xây dựng hạnh phúc (dịch Huxley) - 1966
    Sống đời sống mới (dịch Powers) - 1965
    Thẳng tiến trên đường đời (dịch Lurton) - 1967
    Trút nỗi sợ đi (dịch Coleman) - 1969
    Con đường lập thân (dịch Ennever) - 1969
    Sống theo sở thích (dịch Steinckrohn) - 1971
    Giữ tình yêu của chồng (dịch Kaufmann) - 1971
    Tổ chức gia đình - 1953



    CÁC BÀI ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ:

     

     242 bài trên tạp chí Bách Khoa, 50 bài trên các tạp chí Mai, Tin Văn, Văn, Giáo Dục Phổ Thông, Giữ Thơm Quê Mẹ. Ngoài ra ông còn viết lời giới thiệu cho 23 quyển sách của văn hữu


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Trung Sơn @ 07:29 04/07/2009
    Số lượt xem: 414
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến