LIÊN KẾT CÁC CUỘC THI


tgt

Thống kê trong ngày

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Trực tuyến trên website

    2 khách và 0 thành viên

    ĐỌC BÁO ĐIỆN TỬ










    WEB HỖ TRỢ CHUYÊN MÔN




    Tài nguyên dạy học

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Trần Trung Sơn)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang web Trần Trung Sơn xây dựng như thế này có được không?
    Đẹp
    Bình thường
    Đơn điệu
    Ý kiến khác

    Đất nước Việt Nam

    Gốc > Chăm sóc thế hệ trẻ >

    KỶ NIỆM 62 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH - LIỆT SĨ ( 27/7/1947 - 27/7/2009 )

    Năm nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kỷ niệm trọng thể 62 năm “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” (27/7/1947 - 27/7/2009), Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 14-12-2006 về Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sĩ, người có công và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Trong Chỉ thị này, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt một số nhiệm vụ quan trọng, trong đó có việc: “Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với gia đình liệt sĩ, thương binh, người có công với cách mạng và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc và những thành quả của công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng trong 61 năm qua”.

    I.-  SỰ RA ĐỜI CỦA NGÀY THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ 27 THÁNG 7

    Cách mạng tháng Tám vừa thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta.

    Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu, chặn tay bọn xâm lược. Trong những tháng năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống hoặc đổ máu trên các chiến trường.

    Theo lời kêu gọi của Đảng, của Chính phủ và Bác Hồ, kế thừa truyền thống “nhân ái, thủy chung” của dân tộc, nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu của mình cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì sự nghiệp độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.

    Đầu năm 1946, “Hội giúp binh sĩ bị nạn” ra đời ở Thuận Hóa (Huế), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác ... Sau đó ít lâu được đổi thành “Hội giúp binh sĩ bị thương”. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

    Chiều ngày 28 tháng 5 năm 1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, “Tổng Hội” tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.

    Để giúp chiến sĩ trong mùa đông giá rét, cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” được tổ chức trong cả nước, mở đầu bằng buổi lễ xung phong “Mùa đông binh sĩ” do Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam tổ chức chiều ngày 17 tháng 11 năm 1946 tại Hà Nội. Hồ Chủ tịch đã đến dự buổi lễ và tặng chiếc áo mà Người đang mặc (chiếc áo sau này bán đấu giá được 3.500 đồng).

    Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19 tháng 12 năm 1946, theo lời kêu gọi cứu nước của Bác Hồ, nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên. Thương binh, liệt sĩ trở thành vấn đề lớn.

    Trước yêu cầu bức xúc đó, cùng với việc tiếp tục kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16 tháng 2 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

    Để chủ đạo công tác này trong cả nước, ngày 26 tháng 2 năm 1947, Phòng thương binh (thuộc Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam) được thành lập và đầu tháng 7 năm 1947 Bác Hồ đã đồng ý cho thành lập Ban Vận động tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”.

    Cũng trong thời gian này, tại một địa điểm xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, các đại biểu Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã dự một cuộc họp. Tại cuộc họp này, theo đề nghị của đại diện Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam, các đại biểu  đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 hàng năm là “Ngày Thương binh toàn quốc”. Ông Lê Tất Đắc, đại diện Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam tham gia cuộc họp đã tóm lược về ngày đáng ghi nhớ này bằng câu ca dao:

    “ Dù ai đi Đông về Tây

    27 tháng 7 nhớ ngày thương binh.

    Dù ai lên thác xuống ghềnh

    27 tháng 7 thương binh nhớ ngày ”.

    Chiều ngày 27 tháng 7 năm 1947, “Ngày Thương binh toàn quốc” mở đầu bằng cuộc mitting lớn được tổ chức tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tại cuộc mitting này, các đại biểu đã nghe:

    - Ông Lê Tất Đắc, đại diện Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam đọc thư của Hồ Chủ tịch gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”. Trong thư Người viết:

    “... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu ...”.

    “... Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

    - Ông Lê Thành Ân, Phó Trưởng phòng Thương binh, thuộc Chính trị Cục nói về mục đích, ý nghĩa của “Ngày Thương binh toàn quốc” và trách nhiệm của toàn dân đối với thương binh, liệt sĩ.

    - Ông Lê Tỵ, đại diện thương binh nói lên lòng biết ơn của thương binh đối với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự giúp đỡ của nhân dân.

    - Bà Bá Huy, Bí thư Phụ nữ cứu quốc xã Lục Ba, người sau này được Bác Hồ gửi thư khen vì có nhiều thành tích giúp đỡ bộ đội, thương binh ... phát biểu, hứa hẹn ủng hộ và giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.

    Trong lời kêu gọi nhân “Ngày Thương binh toàn quốc”, ngày 27 tháng 7 năm 1948, Hồ Chủ tịch viết:

    “... Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào.

    Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm mọi cách để giúp đỡ anh em  thương binh và gia đình tử sĩ.

    Tôi cũng rất mong muốn đồng bào sẵn sàng giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần ...”.

    “Ngày Thương binh toàn quốc” đầu tiên cũng được tổ chức ở một số Tỉnh phía Nam, đặc biệt là Thành phố Sài Gòn. Tuy đang bị địch tạm chiếm và đàn áp, khủng bố rất gắt gao nhưng đồng bào đã tổ chức theo cách riêng của mình: đến ngày đó các cửa hàng “đằng mình” đều đóng cửa nửa ngày và cũng trong thời gian đó không ai ra đường để biểu thị thái độ bất hợp tác với địch.

    Từ đấy, hàng năm đến ngày 27 tháng 7, Bác Hồ đều gửi thư thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ.

    Từ tháng 7 năm 1955, “Ngày Thương binh toàn quốc” được đổi thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

    Từ năm 1970, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định lấy ngày 01 tháng 12 hàng năm làm “Ngày Thương binh, Liệt sĩ”. Theo đó, hàng năm đến ngày 01 tháng 12, cùng với việc cử các đoàn đại biểu đến tặng quà, úy lạo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều có thư động viên, thăm hỏi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhắc nhở quân dân các địa phương quan tâm, săn sóc, giúp đỡ anh, chị em.

    Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8 tháng 7 năm 1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hàng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” của cả nước.

    Trải qua hơn nửa thế kỷ, với các tên gọi “Ngày Thương binh toàn quốc”, “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” và được tổ chức trong những hoàn cảnh khác nhau (chiến tranh, hòa bình ở nửa đất nước, đất nước thống nhất, cả nước tiến hành công cuộc đổi mới), nhưng đúng như mục tiêu đề ra ban đầu, mỗi năm đến “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” ngày 27 tháng 7, trên đất nước ta lại dấy lên nhiều việc làm thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình người có công với cách mạng, thể hiện truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và cuộc sống yên bình của nhân dân mà hy sinh, cống hiến.

    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm “Ngày Thương binh, Liệt sĩ”, ngày 27 tháng 7 năm 1997, tại xóm Bàn Cờ, xã Hùng Sơn thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nơi chứng kiến sự ra đời của “Ngày Thương binh toàn quốc”, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã khánh thành Khu kỷ niệm 27/7 và dựng bia kỷ niệm với nội dung được khắc trên bia như sau:

    “ NƠI ĐÂY

    NGÀY 27 THÁNG 7 NĂM 1947, 300 CÁN BỘ, BỘ ĐỘI

    VÀ ĐẠI DIỆN CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG

    HỌP MẶT NGHE CÔNG BỐ BỨC THƯ CỦA BÁC HỒ

    GHI NHẬN SỰ RA ĐỜI CỦA NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ ”

    Cũng nơi này đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử nhân dịp kỷ niệm 50 năm “Ngày Thương binh, Liệt sĩ”, ngày 27 tháng 7 năm 1997.

    II.-  XUẤT XỨ CÂU NÓI, BÀI VIẾT NỔI TIẾNG CỦA BÁC HỒ TRỞ THÀNH PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG, LẼ SỐNG CỦA THƯƠNG BINH, GIA ĐÌNH LIỆT SĨ: “Phấn đấu trở thành Người công dân kiểu mẫu, Gia đình cách mạng gương mẫu”.

    Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ. Tình cảm lớn lao của Bác tiêu biểu cho tình cảm của toàn Đảng, toàn dân đối với các liệt sĩ, thương binh. Những điều đó đã được thể hiện trong các bài nói, bài viết của Bác dưới đây:

    1.  Trong thư gửi Ban Thường trực của Ban tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” ngày 27-7-1947, Bác viết:

    “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe đọa; của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh.

    Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu.

    Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người anh hùng ấy.

    Trong lúc chống nạn đói kém, đồng bào ta đã từng mỗi tuần nhịn ăn một bữa, để giúp các đồng bào bị đói. Bây giờ chống nạn ngoại xâm, tôi chắc đồng bào ta sẽ vui lòng vài ba tháng nhịn ăn một bữa để giúp các chiến sĩ bị thương.

    Ngày 27-7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.

    ... Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm sẻ áo của đồng bào, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn.

    Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.

    2.  Trong thư gửi anh em thương binh và bệnh binh tháng 7-1948, Bác viết:

    “Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt, kháng chiến được hoàn toàn thành công.

    Chắc các đồng chí không khỏi phân vân. Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng bào luôn nhớ đến các đồng chí”.

    3.  Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Thương binh về việc đón thương binh về làng tháng 7-1951, Người cũng nhắc lại:

    “Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ, anh em không đòi hỏi gì cả.

    ... Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?

    ... Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một os61 anh em thương binh ...

    ... Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.

    4.  Trong thư gửi phụ nữ nhân ngày 8-3-1952, Bác viết:

    “... Tôi kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các nữ liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc ...

    ... Tôi kính chào các bà mẹ có con trong bộ đội và các bà mẹ, cùng vợ con của liệt sĩ.

    ... Các bà mẹ chiến sĩ và các chị em đã giúp thương binh, đã hòa lẫn lòng yêu thương không bờ bến, mà giúp chiến sĩ và chăm sóc thương binh như con em ruột thịt của mình”.

    5.  Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh ngày 27-7-1952, Người cũng nhắc anh em thương binh là:

    “Về phần anh em thương binh, bệnh binh:

    - Phải hòa mình với nhân dân, tôn trọng nhân dân, tránh phiền nhiễu nhân dân.

    - Phải tránh tâm lý “công thần”, coi thường lao động, coi thường kỷ luật.

    - Chớ bi quan, chán nản, phải luôn luôn cố gắng. Ngày nay anh em sẽ tùy điều kiện mà xung phong tăng gia sản xuất ...

    - Đồng bào sẵn sàng giúp đỡ, anh em có quyết tâm thì anh em nhất định dần dần tự túc được”.

    6.  Diễn từ trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sĩ ngày 31-12-1954:

    “... Các liệt sĩ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước.

    Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sĩ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong nước.

    Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm đỏ thắm.

    Tiếng thơm của các liệt sĩ muôn đời lưu truyền sử xanh.

    Một nén hương thanh.

    Vài lời an ủi”.

    7.  Trong buổi đón giao thừa ở Trường Thương binh hỏng mắt Hà Nội năm 1956, Bác nói:

    “Các chú tàn nhưng không phế”.

    8.  Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Thương binh ngày 27-7-1956, Bác Hồ viết:

    “... Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và giúp đỡ họ”.

    9.  Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam tháng 6-1957, Bác viết:

    “... Các chú là những chiến sĩ đã được quân đội nhân dân rèn luyện về đạo đức và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của quân đội cách mạng là: giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết, thương yêu giữa anh em thương bệnh binh với nhau, giữa thương, bệnh binh với cán bộ và nhân dân giúp việc ở Trại, giữa thương, bệnh binh trong Trại với đồng bào chung quanh”.

    10.  Trong thư gửi anh em thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ ngày 27-7-1959, Bác Hồ cũng đã căn dặn:

    “... Trong năm qua, các gia đình liệt sĩ và anh em thương binh, bệnh binh đã đóng góp khá nhiều vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

    Nhiều gia đình liệt sĩ đã hăng hái tham gia Tổ đổi công và Hợp tác xã nông nghiệp và đã đạt được thành tích khá trong việc sản xuất và tiết kiệm. Tôi chúc các gia đình ấy trở thành những gia đình cách mạng gương mẫu ...”.

    11.  Trong diễn văn đọc tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (ngày 5-1-1960), đoạn nói về thương binh liệt sĩ, Bác Hồ đã nói như sau:

    “... Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta ...

    ... Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta...”.

    12.  Trong Di chúc thiêng liêng của Người, Bác Hồ của chúng ta đã căn dặn biết bao điều hệ trọng về công tác Lao động - Thương binh và Xã hội:

    “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, than niên xung phong ...), Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

    Đối với các liệt sĩ, thì mỗi địa phương (thành phố, làng, xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

    Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền cùng Hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công ăn việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

    (Bản viết tháng 5-1968, Bộ Chính trị khóa VI công bố ngày 19-8-1989).

    13.  Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 29-3-1978, Bộ Thương binh - Xã hội (sau này là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) đã ban hành Chỉ thị số 07/TBXH về cuộc vận động chính trị trong thương binh, gia đình liệt sĩ phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, mãi mãi xứng đáng là “Người công dân kiểu mẫu” và “Gia đình cách mạng gương mẫu”.

    “... Xây dựng được phong trào sôi nổi và thi đua phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang trong thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, tùy theo khả năng và lĩnh vực hoạt động của mình mà đóng góp nhiều nhất cho yêu cầu phát triển sản xuất, công tác và nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của nhân dân. Qua thực tiễn đó mà rèn luyện mãi mãi xứng đáng là “Người công dân kiểu mẫu” và “Gia đình cách mạng gương mẫu” như Bác Hồ hằng mong muốn ...”.

    14.  Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 15-7-1985 về việc tăng cường chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng:

    “Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng “Người công dân kiểu mẫu”, “Gia đình cách mạng gương mẫu”, thu hút nhiều người, nhiều gia đình có công ở cơ sở tham gia, đồng thời phát động phát triển toàn dân, nhất là thế hệ trẻ, học tập và làm theo những gương tốt. Chấn chỉnh nề nếp sinh hoạt chính trị ở các cấp của những người và gia đình có công, nhất là đối với cán bộ, bộ đội hưu trí, nhằm thường xuyên và kịp thời phổ biến cho anh chị em. Sử dụng hợp lý trình độ, khả năng đóng góp của anh chị em vào công tác ở cơ sở. Mặt khác cần chống luận điệu chiến tranh tâm lý, phá hoại của địch, ngăn ngừa và xử lý kịp thời những hành động phi pháp làm mất uy tín và phá hoại truyền thống cách mạng ...”.

    Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, hàng vạn thương binh, bệnh binh đã không công thần mà nỗ lực phấn đấu, vượt mọi khó khăn, nhiều người đã gương mẫu trong lao động, sản xuất, công tác và học tập, đảm nhiệm những vị trí trọng trách quan trọng từ Trung ương đến cơ sở và trở thành Anh hùng Lao động, Chiến sĩ thi đua, Người công dân kiểu mẫu, Gia đình cách mạng gương mẫu.

    III.- ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO TỔ CHỨC PHONG TRÀO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH, GIA ĐÌNH LIỆT SĨ, NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG

    1.  Phát huy truyền thống cao đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và tổ chức vận động toàn dân tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” nhằm từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công với cách mạng, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục xây dựng nét đẹp truyền thống trong đời sống văn hóa - xã hội của đất nước. Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, đến nay, những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh đã cơ bản được giải quyết.

    “... Bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh, mở rộng phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ” (trích Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1996, trang 115).

    “... Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên ...” (trích Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001, trang 301).

    “... Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước; vận động toàn xã hội tham gia các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, nâng cao mức sống về vật chất, tinh thần của người có công, bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư ...” (trích Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006, trang 216).

    2.  Ba mươi bốn năm qua, kể từ ngày Thành phố được hoàn toàn giải phóng, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, đời sống của đa số cán bộ, nhân dân còn nhiều thiếu thốn, trong đó số gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng càng khó khăn bức xúc, thể hiện nổi bật trên 3 vấn đề cơ bản: đời sống và công ăn việc làm, nhà ở và điều kiện sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe và học hành mà công tác thực hiện chính sách đối với người có công luôn phải đặt lên hàng đầu để giải quyết.

    Phát huy truyền thống quý báu của dân tộc ta “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”, Đảng bộ và chính quyền Thành phố đã quán triệt và vận dụng tích cực, sáng tạo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Trung ương và địa phương cùng lo”, từ cấp Thành phố đến các Quận, Huyện đều có quỹ dự phòng để đảm bảo thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ chính sách do Nhà nước quy định cấp phát cho các đối tượng có công; đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo các đoàn thể quần chúng liên tục phát động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội tích cực tham gia các phong trào: Đền ơn đáp nghĩa, Chăm sóc phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng.

    Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh coi “Đền ơn đáp nghĩa” là công trình của trái tim, của nhiều thế hệ, không chỉ đời này mà cả các thế hệ mai sau, cho nên lãnh đạo Thành ủy - HĐND - UBND - UBMTTQ Thành phố đã thường xuyên theo dõi chỉ đạo, nhạy bén sáng tạo, phát hiện nhân tố mới, chủ động tìm nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn, khai thác mọi tiềm năng, tạo ra thuận lợi để thúc đẩy các phong trào hành động cách mạng mang lại nhiều thành quả tốt đẹp.

    *  Mười năm sau giải phóng (1975 - 1985), khối lượng đối tượng và gia đình có công do Thành phố chịu trách nhiệm rất lớn: 150.000 người, trong đó cán bộ hưu trí, mất sức sau hai cuộc kháng chiến chiếm 15.500 người, liệt sĩ 33.300 người, gia đình thân nhân liệt sĩ 46.617 người, thương binh 9.126 người ... (theo “Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm” của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1985, trang 177). Đảng bộ Thành phố đã phát động mạnh mẽ phong trào toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành chấp hành chính sách thương binh và xã hội. Nổi bật là các phong trào tập thể và cá nhân kết nghĩa đỡ đầu thân nhân liệt sĩ; phong trào mở sổ vàng, quỹ bảo trợ chính sách, mở sổ tiết kiệm cho cha, mẹ, con liệt sĩ; xây dựng nhà tình nghĩa; góp vốn xây dựng kinh tế gia đình cho đối tượng chính sách .... Tính chung số tiền do nhân dân đóng góp lên đến hàng trăm triệu đồng (thời giá năm 1984 - 1985). Thành phố đã cấp 11.233 căn nhà trong nội thành; 4.000 ha ruộng đất, hơn 6.500 bộ khung nhà cho khu vực ngoại thành; xây dựng gần 5.000 ngôi nhà tình nghĩa; giải quyết việc làm cho 5.180 người diện chính sách.

    *  Mười năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1996), thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công, Thành phố có 114.948 người thuộc diện chính sách, trong đó có 17.812 thương binh (779 thương binh nặng 1/4); 2.731 bệnh binh (có 20 bệnh binh nặng 1/3); 40.492 liệt sĩ với 45.450 thân nhân chủ yếu của liệt sĩ; 1.876 Mẹ Việt Nam Anh hùng (có 547 Mẹ còn sống); 55 Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng Lao động; 2.514 người hoạt động cách mạng bị địch bắt tra tấn, tù đày; 21.119 người hưởng trợ cấp thâm niên kháng chiến; 12.289 người và gia đình có công với cách mạng (theo số liệu năm 1997 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

    Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VI (5-1996) ghi rõ: “Tổ chức thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với nước, nâng cao chất lượng các phong trào đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, chăm sóc các đối tượng chính sách. Xây dựng “Quỹ tình nghĩa” chăm lo thường xuyên các đối tượng chính sách”.

    *  Mười hai năm trở lại đây (1997 - 2009), phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” tiếp tục nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, HĐND và UBND Thành phố, sự hưởng ứng nhiệt tình của các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân Thành phố. Tính đến giữa năm 2007, Thành phố đã xây dựng được 15.579 nhà tình nghĩa tặng cho các diện chính sách với tổng số tiền trên 66 tỷ đồng; xây dựng 1.884 căn nhà tình thương cho các diện chính sách khác với tổng số tiền là 12 tỷ 165 triệu đồng; sửa chữa chống dột 11.468 căn nhà cho diện chính sách với tổng số tiền là 28 tỷ 22 triệu đồng; tặng 13.000 Sổ vàng tình nghĩa với tổng trị giá hơn 10 tỷ đồng. Ngoài ra Thành phố còn chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người có công ở nhiều địa phương khác. Chỉ tính từ năm 2003 đến nay, Thành phố đã hỗ trợ 160 tỷ đồng để xây nhà tình nghĩa, chăm sóc gia đình chính sách ở các tỉnh Đắc Nông, Trà Vinh, Bến Tre, Long An ... chung sức giúp đỡ thương binh nặng về ổn định cuộc sống ở gia đình (theo Báo cáo số 2748/LĐ-TBXH-CS ngày 13-6-2007 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).

    Về phong trào Phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng: tính đến nay, tại Thành phố có 2.062 Mẹ được Nhà nước phong tặng và truy tặng Danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Ngoài việc phụng dưỡng 100% Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống (289 Mẹ) của Thành phố, các cơ quan, đơn vị, cá nhân trên địa bàn còn nhận phụng dưỡng 508 Mẹ Việt Nam Anh hùng của tỉnh Quãng Ngãi đến cuối đời với tổng số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng. Đồng thời tổ chức đưa trên 300 thương binh nặng ở khu an dưỡng Phước Bình về địa phương sinh sống trong sự thương yêu đùm bọc của gia đình, chính quyền và nhân dân Thành phố.

    Về công tác Quy tập hài cốt liệt sĩ: quán triệt chủ trương của Đảng bộ và chính quyền Thành phố, trong 34 năm qua, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã tham mưu và phát động trong nhân dân, các cơ quan, đoàn thể Quận, Huyện, Phường, Xã trên địa bàn phong trào “Đi tìm đồng đội”; đồng thời phối hợp tích cực cùng Bộ chỉ huy Quân sự Thành phố chỉ đạo hướng dẫn tìm kiếm, cất bốc quy tập hài cốt liệt sĩ do các đơn vị bàn giao sơ đồ mộ chí hoặc do nhân dân phát hiện về các Nghĩa trang Liệt sĩ để truy điệu, an táng. Tính đến nay, Thành phố có 7 Nghĩa trang Liệt sĩ (trong đó có 1 nghĩa trang do Thành phố quản lý và 6 nghĩa trang liệt sĩ ở các quận, huyện) với 27.107 mộ liệt sĩ (trong đó có 6.069 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính). Đây là việc làm mang tính chất nhân văn sâu sắc, có tác dụng giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc mà ngành Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố đã hoàn thành xuất sắc trong thời gian qua. Đặc biệt trong những năm qua, Thành phố đã hoàn thành sớm chỉ tiêu so với các địa phương khác trong cả nước về xây dựng nhà bia ghi danh liệt sĩ. Đây là công trình văn hóa có ý nghĩa to lớn ghi nhận công lao đóng góp, hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ; qua đó mà giáo dục thế hệ trẻ ngày nay và mai sau lòng tự hào về truyền thống cách mạng của cha ông cũng như phát huy truyền thống anh hùng ấy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Thành phố, bảo vệ đất nước.

    Về Chương trình xóa đói, giảm nghèo: đã hoàn thành xóa đói, giảm nghèo theo tiêu chí cũ từ năm 2003; triển khai thực hiện xóa đói giảm nghèo theo tiêu chí mới của Thành phố (bình quân thu nhập 6 triệu đồng/người/năm) từ năm 2004, nhất là đối với diện chính sách. Thực tế cuộc sống của các gia đình chính sách ở nhiều Quận, Huyện đã ổn định hơn mức sống của dân cư trên địa bàn và có rất nhiều hộ trở nên khá giả. 100% số xã, phường trong Thành phố đã được công nhận hoàn thành mục tiêu nâng cao đời sống của người hưởng chính sách có công với cách mạng bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân địa phương.

    Với tổng số 152.346 người diện chính sách mà Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý và thực hiện chính sách “Đền ơn đáp nghĩa”, trong những năm qua, Thành phố luôn làm tốt công tác này và đạt được những thành tích xuất sắc khiến cho phong trào chăm sóc người có công của Thành phố được coi là điển hình và được nhân rộng ra cả nước. Thành phố thực sự đã và đang làm tốt nhiệm vụ tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII (12-2005) đã đề ra, trong đó có việc: “Chăm lo đời sống cho cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, gia đình chính sách, người cao tuổi ..., thực hiện nhất quán chính sách đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn”.

    Ba mươi bốn năm qua, kể từ sau ngày Thành phố được hoàn toàn giải phóng, đặc biệt là trong hơn 20 năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu đã phát huy truyền thống anh hùng, đoàn kết một lòng, vượt qua biết bao khó khăn thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có thành tựu rất đáng trân trọng về công tác Lao động - Thương binh và Xã hội, đền ơn đáp nghĩa.

    ù

    Kỷ niệm 62 năm “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” 27 tháng 7, Đảng bộ và nhân dân Thành phố tỏ lòng thành kính trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc những đồng bào, đồng chí đã vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì nền độc lập, tự do, thống nhất, vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc mà cống hiến máu xương và hy sinh cả tính mạng, cuộc sống của mình cho đất nước ta được phát triển tươi đẹp như ngày hôm nay. Thực hiện chủ trương của Đảng và Pháp lệnh của Nhà nước đối với người có công với cách mạng, Đảng bộ cùng đồng bào Thành phố tiếp tục tổ chức và tích cực tham gia phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” nhằm nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần của thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tiếp tục xây dựng, bồi đắp và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong đời sống văn hóa - xã hội của Thành phố é

     

     

    BAN TUYÊN GIÁO THÀNH ỦY

    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Trung Sơn @ 12:42 15/07/2009
    Số lượt xem: 992
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến